Daily Archives: 2013/10/03

Skin Retouch (in Photoshop)

Nguyên tắc cơ bản:

  • Dùng 1 layer Blur để làm mịn da.
  • Dùng 1 layer Substract với Linear Light Blending Mode để Giữ chi tiết da và Xóa mụn trên layer này.
  • Layer substract nằm trên layer Blur; chỉnh Opacity để photo nhìn tự nhiên hơn.
  • Dùng layer khác để dogde & burn, tô màu cho mắt môi,…

 

Có một số cách làm của 1 số người khác nhau như sau:

  1. Skin retouch (in Photoshop) by Sara Kiesling:
    1. Làm mịn toàn bộ vùng da
    2. Xử lý mụn
    3. Dodge & burn
    4. Tô màu (trang điểm) cho subject.
  2. Portrait retouch (in Lightroom & Photoshop) by Miguel Quiles:
    1. Xử lý mụn
    2. Tinh chỉnh từng bộ phận (mắt, môi, tóc…)
    3. Đổi màu background
    4. Tinh chỉnh màu da (skin tone).
  3. Portrait retouch (in Photoshop) by hafoto:
    1. Làm sáng ảnh bị tối (underexposed) toàn bộ hoặc bị tối một phần.
    2. Làm nét ảnh bằng UnSharp Mask
    3. Tô màu (tăng màu, đổi màu) bằng Soft Light Brush cho một phần bức ảnh
    4. Chỉnh color tone: Dual tone (Sepia tone)
    5. Hafoto Beauty Salon (portrait retouch by Hafoto):
      1. Chỉnh skin tone
      2. Xử lý mụn, làm sạch da, tô thêm màu
      3. Kỹ thuật dodge & burn

 

1. Skin retouch (in Photoshop) by Sara Kiesling

Video hướng dẫn: http://www.youtube.com/watch?v=bNB9Mepi1VI

 

  • Thêm 2 layers để chỉnh mịn da và xóa mụn:
    • Duplicate into 2 layers, tổng cộng có 3 layers như sau:
      • Layer: texture (layer trên cùng)
      • Layer: color (layer ở giữa)
      • Original layer: real photo (locked) (layer dưới cùng)
    • Color layer:
      • Filter-Gaussier Blur \\ increase blur level (~10)
    • Texture layer:
      • Image \\ Apply Image : Select Layer: “Color” (là layer mịn da); Blending: Substract; Scale: 2; Offset: 128
      • Blending mode: Linear Light.
    • skin_texture_color

 

  • Chỉnh cho sáng một số vùng tối quanh mắt, mũi (nếu cần thiết):
    • Trên layer “Color”:
    • Dùng công cụ Clone Stamp Tool:
      • mode: normal, Opacity: 30~50, Flow: 30~50),
      • chọn size tùy vào độ lớn vùng sáng, hardness=0.
    • Chọn vùng sáng mẫu (Alt + click on sapmle)
    • chỉnh nhẹ nhàng các vùng tối quanh mắt, mũi nhưng không quá nhiều (tránh làm mất góc độ chiếu sáng thực của ảnh)
    • Có thể dùng công cụ này xóa đi các vết nám, xạm… ở các vùng da.

 

  • Xóa các vết, mụn, nếp nhăn…
    • Thực hiện trên layer “texture”:
    • Dùng công cụ Patch Tool
    • Khoanh mụn cần xóa và kéo ra chỗ khác để xóa.

 

  • (Nâng cao) Dodge & Burn để làm nổi khối:
    • Thêm 2 layers: Dodge và Burn. Dodge để làm sáng các vùng highlight hoặc sáng (ví dụ: vùng da sáng, bóng sáng, lòng trắng mắt…); Burn để làm tối các vùng shadow (vùng tối trên mặt, lông mày, khóe mắt, tóc…). Ảnh sau khi dodge&burn sẽ tăng tương phản để nổi khối.
    • Cả 2 New Layer ở mode Soft Light; 50% grey.
    • skin_dodge_burn
    • Thực hiện dodge and burn; nếu thấy quá mức thì dùng tẩy, tẩy đi.

 

  • (Nâng cao) Vẽ/Tô (trang điểm) thêm nét đậm hoặc màu:
    • Thực hiện trên 1 layer riêng biệt (mode Soft Light; Normal hoặc Color… tùy yêu cầu).
    • Dùng brush đen tô đậm chỗ cần (ví dụ khóe mắt, lông mi…)
    • Dùng brush màu kẻ mắt, môi, má… (như trang điểm bên ngoài thật).

 

  • Lưu ý:
    • Có thể giảm Opacity của từng layer đi để cho ảnh nhìn được tự nhiên hơn.

 

2. Portrait retouch (in Lightroom & Photoshop) by Miguel Quiles

Video hướng dẫn: https://www.youtube.com/watch?v=61p9rkcwesQ

 

  • Pre-adjustment in Lightroom (hoặc software tương tự, ví dụ CaptureOne, DxO…):
    • Chỉnh WB (Temp + Tilt) để có màu da mong muốn.
    • Chỉnh Exposure cho đủ sáng.
    • Tăng một chút Clarity cho ảnh nét hơn, tương phản hơn.
    • Sau đó chuyển sang Photoshop để có thể dùng công cụ Layer/Mask để chỉnh tiếp (hiện tại chỉ có Photoshop mới có Layer/Mask để chỉnh từng phần trong ảnh).

Lưu ý: tạo các Group trong Photoshop để chứa các Adjustment Layers. Ảnh gốc vẫn để ở Layer dưới cùng (vẫn để Locked và ko nằm trong các group mới tạo).

  • Xóa mụn: 
    • Tạo 1 Group: Skin
    • Add normal layer trong Group (đặt tên là Skin để dễ phẫn biệt)
    • Dùng công cụ Healing Brush Tool (nhớ để chế độ: Sample All Layer) để xóa mụn trên Layer: Skin.

 

  • Chỉnh màu, tương phản, đổi màu background…:
    • Tạo 1 Group: Color.
    • Chỉnh tóc:
      • Tạo 1 Adjustment Layer: Brightness/Contrast để tăng contrast cho tóc.
      • Tăng contrast
      • Đổi mask đen, dùng brush trắng tô lên vùng tóc để hiện tóc đã tăng contrast.(Nếu chỉ muốn hiển thị mask thì giữ Alt và click vào mask).
    • Đổi màu, tăng contrast nền (background) cho ấn tượng hơn:
      • Tạo 1 Adjustment Layer: Color Balance để đổi màu nền.
      • Đổi màu cho Midtone (màu nền sẽ thay đổi).
      • Giữ mask trắng, dùng brush đen để mask-out subject (ko áp dụng color adjustment cho subject).
      • Tạo 1 Adjustment Layer: Bright/Contrast để thay đổi contrast nền.
      • Điều chỉnh bright & contrast.
      • Copy mask tử layer kia để mask-out subject.
    • Đổi màu mắt:
      • Tạo 1 Adjustment Layer: Color Balance để đổi màu mắt
      • Đổi màu cho mắt.
      • Đổi mask đen, và dùng brush trắng để mask-in mắt.
    • Làm tươi môi:
      • Tạo 1 Adjustment Layer: Vibrance để làm tươi màu môi
      • Tăng vibrance
      • Đổi mask đen, dùng brush trắng mask-in môi.
    • Chỉnh lại tone màu da của subject (ví dụ làm mầu ấm hơn)
      • Tạo 1 Adjustment Layer: Photo filter
      • Chọn tone mầu ấm (ví dụ mầu cam xẫm).
      • Đổi mask đen, dùng brush trắng để mask-in phần da mẫu.
    • Chỉnh sáng phần da mẫu để làm nổi bật chủ đề:
      • Tạo 1 Adjustment Layer: Curve
      • Tăng shadow
      • Đổi mask đen, dùng brush trắng để mask-in phần da mẫu.
      • Chỉnh Opacity xuống cho ảnh nhìn tự nhiên hơn.

 

3. Portrait retouch (in Photoshop) by hatofo

3.1. Fix underexposed photo

  • Xử lý ảnh bị tối toàn bộ:
    • Step 1: Control-J để copy ảnh lên 1 layer mới. (nhìn lên layer panel, ta có background (ảnh gốc) và layer 1 (phần được copy).
    • Step 2: Đổi mode từ “normal” sang “screen”
    • Tới đây, nếu bạn cảm thấy hình chưa đủ sáng, thì bạn có thể Control-J thêm một lần nữa để copy “layer 1” thành “layer 1 copy”, layer mới tạo thành củng có mode “screen” nên ảnh được nâng sáng thêm một lần nữa.
    • Nếu ảnh lại quá sáng nên bạn có thể giảm Opacity xuống còn 50%.

 

  • Trường hợp ảnh bị tối một phần:  (Ví dụ: mẫu tối nhưng bầu trời đã đủ sáng, nên ta phải tìm cách nâng sáng vùng trên mẫu mà ta cần thôi.)
    • Step 1: Vào “Select” menu (phía trên cùng), chọn “Color range…”, vào “Select” box, chọn shadow. Lệnh (command) này chỉ lựa phần shadow của ảnh.
      • hafoto_color_range
    • Step 2: Vào “Select” menu một lần nũa, chọn “Feather…”, thiết lập thông số feather phù hợp (Ví dụ: giá trị từ 40~60).
    • Step 3: Control-J để copy phần được chọn lên layer mới. Nếu bạn “tắt con mắt” ở layer background thì bạn sẽ thấy vùng chọn (đã được “feather”) trên layer 1.
    • Step 4: Đổi mode từ “nomal” sang “screen”: vùng tối đươc nâng lên (vùng sáng không bị ảnh hưởng).
    • Lưu ý: chọn giá trị feather cho phù hợp, tránh halo-effect giữa vùng tối (được điều chỉnh) và vùng sáng (ko được điều chỉnh).

 

3.2. Làm nét ảnh bằng UnSharp Mask

  • Có 2 trường hợp cần phải dùng Unsharp Mask (Filter – Sharpen – Unsharp Mask…):
    • 1. Ảnh sau khi download từ memory card, củng cần phải sharpen.
    • 2. Ảnh sau khi resize: Cho dù là phóng lớn hay thu nhỏ, sau khi resize cần phải sharpen lại.
  • Có 3 slider điều khiển mức độ sharpen:
    • hafoto_unsharp_mask
    • (1) Radius: Cạnh (edge) được xem là cơ bản để sharpen, nên ngay tại cạnh bạn có thể quyết định bao nhiêu pixels để áp dụng lệnh này. Vì vậy, với nhũng hình có đương nét “mỏng” và “smooth” nên set ít pixel, và ngược lại với đương nét “thick” thì set nhiều pixel. Thường thì setting từ 1 đến 4 pixel là “an toàn”.
    • (2) Amount: Quyết định bao nhiêu phần trăm “cạnh” được sharpen. Thương thì setting tư 50 đến 150% là “an toàn”.
    • (3) Threshold: Cái này quyết định độ “intense” của “surface”. Nói một cách khác phần “bằng phẳng” (không phải edge) nhìn mềm mại (soft) hay đanh (strong, hard). Thường thì setting từ 3 đến 20 là thông dụng.
    • Mối tương quan giữa radius, amount, và threshold:
      • Radius: Nếu radius đươc set thấp (1 px), thì bạn có thẻ set amount cao (150%) và ngược lại. Nếu radius đươc set cao (4 px) thì bạn có thể set amount thấp (50%).
      • Threshold: Tùy theo bạn thich ảnh cao hay thấp intension: set thấp (3) thì nhìn sắc, set cao (20) thì nhìn “mềm”.
  • Tips cho Unsharp Mask:
    • Tip 1: Nếu sau khi áp dụng Unsharp Mask, mà nhìn chưa đủ “sharp” thì click Control-F (áp dụng filter thêm một lần nữa). Áp dụng filter 2 lần với low-setting hay hơn là 1 lần với high-setting.
    • Tip 2: Nếu hình bị sharp hơi quá (ở cái edge nó bị halo effect) thì vào Edit -> Fade, đổi mode thành luminosity.

 

3.3. Tô màu (tăng màu, đổi màu) bằng Soft Light Brush trên một phần bức ảnh

  • Step 1: Control-J để copy ảnh lên layer mới. Ta sẽ tô màu trên layer copy này (để không ảnh hưởng đến layer ảnh gốc).
  • Step 2: Bấm lên “Set Foreground Layer”, lựa màu mà bạn muốn tô.
  • Step 3: Lựa “soft edge brush” trên Tool Panel, set mode Soft Light, Opacity 30% trên Option Bar.
    • hafoto_paint_with_softlight_brush
  • Step 4: Tô màu vào vùng cần tô.

 

3.4. Chỉnh color tone: Dual tone (Sepia tone)

Duotone: Là sự pha trộn màu giữa đen và một màu khác (trắng đen là dạng đặc biệt của duotone khi đen pha với trắng). Sepia là dạng kinh điển nhất khi đen pha với nâu đỏ.

  • Step 1: Image -> Adjustments -> Desaturate để loại bỏ màu hết.
  • Step 2: Control-L để mở “Levels” lên. Chỉnh input levels theo thứ tự: 10, 1.00, 245 (mục đích để tăng contrast đúng theo style sepia).
    • hafoto_sepia_level
  • Step 3: Image -> Adjustments -> Color Balance: set Yellow = -45, Red = 50
    • hafoto_sepia_color_balance
    • Ví dụ ảnh Sepia:
    • hafoto_sepia

 

3.5. Hafoto Beauty Salon (portrait retouch by Hafoto)

Những kỹ thuật được trình bày sau đây đặc biệt dùng đề retouch chân dung cận mặt. Mục đích chính là làm nổi bật lên những nét mặt (facial features) như: mắt, mũi, miệng, và đặc biệt là “skin tone”.

Trong kỹ thuật ánh sáng của chụp chân dung người ta thường dùng diffusing light để đạt được hiệu quả “nhẹ” (soft) và “rực” (glow). Filter được dùng để tạo hiệu quả soft glow này là “Hasselblad Softar No.2” mà ngày nay đã được fashion photographer Kevin Ames tái tạo lại trong photoshop, và Hafoto “modify” thêm để hoàn chỉnh hơn.

  • (1) Chỉnh skin tone:
    • Step 1: Control-J hai lần để tạo 2 bản sao của ảnh gốc. Để cho dễ hiểu, đổi tên layer 1 thành “darken”, layer 2 thành “lighten”.
    • Step 2: Trên layer “Darken”:
      • Apply Gaussian Blur filter với Radius = 40 pixels.
      • Đổi “mode” từ “Normal” thành “Darken”.
      • Giảm “Opacity” của layer Darken xuống 40%.
    • Step 3: Trên layer “Lighten”:
      • Apply Gaussian Blur filter với Radius = 60 pixels, và
      • Đổi thành mode Lighten.
    • Step 4: Tạo layer mới từ 2 layer Darken và Lighten:
      • Merge 2 layers “Darken” và “Lighten” thành 1 layer để tạo tác dụng soft glow (Darken để giữ chi tiết, Lighten để tạo “glow effect”, đó là lý do tại sao Lighten layer dùng 20 pixels blur hơn Darken layer). Lưu ý: có thể giữ 2 layers Darken và Lighten, merge vào 1 Layer khác để dùng lại layers Darken và Lighten nếu cần.
      • Giảm Opacity của merged layer xuống còn 40%.
      • Tới đây, “skin tone” tạm “improved” nhưng effect này làm blur luôn mắt, mũi, miệng của chủ đề. Để khắc phục, ta sẽ làm layer merged này có tác dụng như là 1 cái mask.
    • Step 5: Thêm mask trắng và dùng brush đen (Soft Edge Brush với giá trị Opacity khác nhau) để mask-in ảnh gốc (tức là làm phần cần thiết trên ảnh gốc lộ ra).
      • Trong nhiếp ảnh chân dung, đôi mắt là quan trọng nhất, cần nét nhất nên ta sẽ unmask 100%. Miệng củng được unmask 100% (mắt và miệng là 2 thứ duy nhất trên khuôn mắt có thể biểu lộ cảm xúc).
      • Kế đến là mũi, tóc, tai, áo….bạn có thể chọn từ 60% đến 80% (làm như vậy có nghĩa là gián tiếp làm cho mắt và miệng nổi bật hơn nữa).
      • Cuối cùng là skintone (trán, má, cằm, và những gì còn lại thuộc về da), tùy theo skintone của chủ đề tốt hay xấu mà chọn từ 10% đến 30% (chọn 10% nếu skintone “bết” quá).
      • Lưu ý khi un-mask các phần trên khuôn mặt:
        • Ít nhất phải cho skintone 10% chứ đừng để nguyên, nếu không skintone nhìn giống như “plastic”.
        • Nếu ảnh có background thì nên unmask background 50%.
        • Tip: Bấm phím “d” để set foreground color về default (màu trắng), bấm phím “x” để chuyển nó thành màu đen.
        • Nếu bạn tô với Opacity 20%, miễn là bạn giữ chặt nút trái chuột thì nó vẫn là 20%, cho dù là quẹt tới hay quẹt lui, nhưng nếu bạn nhả tay ra rồi bấm lại, bạn mà tô lên chỗ cũ nữa thì nó sẽ là 40%.
        • Trong khi “đục lỗ” (tô brush đen), muốn thay đỗi size của Brush bạn có thể dùng phím “[” để chọn Brush nhỏ hơn và “]” cho Brush lớn hơn.
  • (2) Xử lý mụn, làm sạch da, tô thêm màu:
    • Merge Layer chỉnh skin tone và layer ảnh gốc lại và xử lý da trên layer mới này.
    • Có thể dùng Clone Stamp, Spot Healing Brush, Patch… để tẩy mụn, xóa sợi tóc thừa…
    • Dùng Clone Stamp để xóa quầng đen dưới mắt.
    • Retouch mắt:
      • Xử lý gân máu ở phần lòng trắng để mắt sáng trong hơn:
        • Step 1: Chọn Lasso Tool trên Tool Panel. Trên Option Bar, chọn “Add to selection”. Giứ nút trái chuột, bắt đầu “vẽ” chung quanh tròng trắng. Đường vẽ sẽ tạo nên “đường kiến bò” (marching ants) cho ta biết (những) vùng bên trong là vùng được chọn.
        • Step 2: Vào Select->Feather… Chọn Radius = 2 px. (Có thể bấm Ctrl-H để giấu đi “marching ants”).
        • Step 3: Vào Image-> Adjustments-> Hue/Saturation… Trong Edit Box, bấm mũi tên để mở menu ra, chọn Reds. — Giảm Saturation xuống còn -80 (từ -60 đến -80 là được). Trở về Master, tăng Lightness lên +4 (từ +2 đến +4 là được).
      • Tô màu mắt:
        • Dùng Soft Brush, chọn màu mắt thích hợp và tô vào trong mắt (ví dụ: có thể tô mắt màu xanh).
      • Dùng “Clone Stamp” để “xóa” đi cái “catch light” thừa trong mắt (mỗi mắt chỉ nên có 1 “catch light” thôi).
      • Lưu ý:
        • Đối với người Á Đông mắt đen, ta củng “saturate” màu đen cho nó “thuần” đen (pure black, R=0, G=0,B=0), rồi dùng Dodge tool để gây cảm giác 3 chiều (3D). (Xem Kỹ thuật Dodge và Burn).
        • Kỹ thuật “reouch” mắt có thể dùng cho răng chỉ khác là trong phần xử lý gân máu, thay vì chọn “Reds” thì ta chọn “Yellows” (răng vàng).
  • (3) Kỹ thuật Dodge và Burn:
    • Mục đich của kỹ thuật này là làm cho highlight và shadow tương phản hơn, kết quả là ảnh nhìn có chiều sâu và dạng hình khối (3D) hơn.
    • Có 2 cách “dodge” và “burn” trong Photoshop:
      • 1. The Lazy way: Phương pháp này thích hợp cho chân dung cận mặt (close up).
        • Chọn Dodge hoặc Burn tool từ thành công cụ.
        • Trên Option Bar, chọn Range: Midtones, Exposure: 20%
        • Tô lên phần cần dodge hoặc burn. Nguyên tắc chung của Dodge và Burn là: Muốn cho vùng nào nổi lên trên, nhìn có cảm giác “cao” thì ta “dodge” (thường là vùng highlight), muốn cho vùng nào “chìm” xuống, có cảm giác thấp, thì ta “burn” (thường là vùng shadow).
        • Lưu ý: Làm nhẹ tay, hoặc làm 1 lần, không sẽ tạo cảm giác không thật.
      • 2. The Right Way: Cách này được nhiều người dùng nhất vì những ưu điểm sau: (a) Ta dodge và burn trên 1 layer khác nên không ảnh hưởng trực tiếp đến ảnh gốc. và (b) Vì nó “tác động nhẹ” nên thích hợp cho ảnh nào cần dodge và burn ở nhiều mức độ khác nhau.
        • Tạo Layer mới, đổi mode thành “Overlay”; “check” cái box “Fill with Overlay-neutral color (50% gray)”.
        • Dùng Soft Brush, set Opacity từ 5% tới 15% (tùy theo) và vẽ lên Layer xám này;
        • Brush màu đen để burn còn brush màu trắng để dodge (Tip: bấm phím “d” để set foreground color thành màu đen (default), bấm phím “x” để chuyển qua màu trắng và ngược lại).
  • Lưu ý (dành cho các bạn thích thử nghiệm), trong khi tạo “soft glow effect”, thay vì chọn mode “darken”, bạn có thể chọn Multiply, Color Burn, và Linear Burn. Tương tự như vậy, thay vì chọn mode “Lighten”, bạn có thể chọn Screen, Color Dodge, Linear Dodge. Như vậy, với 4 mode để chọn ở mỗi nhóm, bạn có thể tạo được 16 kiểu kết hợp khác nhau để tạo “soft glow effect”. Phần này xin để các bạn tự “mày mò” lấy. Sau khi áp dùng “effect” này, mà ảnh nhìn quá “soft”, thì vào Image -> Adjustments -> Brightness/Contrast, chỉnh lại ánh sáng và contrast (cái này thì tủy theo sở thích cá nhân của bạn).
  • Nguồn tham khảo: http://www.vnphoto.net/forums/showthread.php?t=2775

 

 

 

 

 

 

Advertisements

Khẩu hiệu của Trung Nguyên vô nghĩa về truyền thông?

Nội dung nổi bật:

– Ông Nguyễn Thanh Sơn, Tổng giám đốc T&A Ogilvy cho rằng: “Sẽ rất khó để mọi người tin theo rằng giá trị thực sự của Trung Nguyên là “tính sáng tạo” nếu như Trung Nguyên vẫn giữ màu sắc ảm đạm và âm u trong màu chủ đạo như hiện nay, rất khó để người ta tin ở “tính sáng tạo” của Trung Nguyên nếu như họ vẫn viết ra những lời lẽ đại ngôn đao to búa lớn và phần lớn là vô nghĩa…”.

– Kêu gọi lòng yêu nước, ủng hộ hàng nội một cách rầm rộ có thể tăng cường nhận biết về thương hiệu Trung Nguyên, nhưng sẽ làm công chúng lẫn lộn và cuối cùng là nhầm lẫn những giá trị cốt lõi của thương hiệu này

– Muốn “dẫn dắt” người tiêu dùng, một thương hiệu phải có một “lý tưởng lớn”, hay nói một cách khác, nó phải có một cách nhìn riêng, một quan điểm riêng của nó đối với thế giới.

Những ồn ào mà ông chủ cà phê Trung Nguyên tạo ra trong thời gian gần đây cho thấy phản ứng của một cái nhìn có thể nói là thiển cận của một số thương hiệu Việt Nam trước sự hiện diện của các thương hiệu toàn cầu lớn.

Thay vì tìm hiểu để học hỏi, tìm ra một “đại dương xanh” để cạnh tranh thì ông Vũ lại dè bỉu uy tín thương hiệu đã được toàn thế giới công nhận của họ.

Cũng trong năm 2003, khi tôi “chất vấn” “chiến lược gia” cho thương hiệu cà phê Trung Nguyên về bản sắc thương hiệu của họ, tôi đã không có được câu trả lời. Đòi hỏi người tiêu dùng hiện đại thể hiện tinh thần yêu nước của họ bằng cách sử dụng sản phẩm của mình là một cách “thương mại hóa” lòng yêu nước của người dân vì lợi ích cá nhân một cách không sòng phẳng.

Đó là lý do tôi tin trừ phi có những thay đổi mang tính cách mạng, thương hiệu quán cà phê Trung Nguyên rất khó có thể cạnh tranh với các thương hiệu toàn cầu như Starbucks.

Ông Đặng Lê Nguyên Vũ, người sáng lập Tập đoàn Cà phê Trung Nguyên – Ảnh Vneconomy

Vậy thì Trung Nguyên (hoặc những thương hiệu khác của Việt Nam) nên làm gì nếu muốn thực sự cạnh tranh được với những thương hiệu quốc tế đã và sẽ tiếp tục thâm nhập thị trường Việt Nam?

Trước tiên, anh Đặng Lê Nguyên Vũ nói đúng, để thành công cần phải có một câu chuyện thương hiệu hấp dẫn người tiêu dùng. Nhưng trong thời đại cạnh tranh hiện nay, “một câu chuyện thương hiệu hấp dẫn” không đủ.

Muốn “dẫn dắt” người tiêu dùng, một thương hiệu phải có một “lý tưởng lớn”, hay nói một cách khác, nó phải có một cách nhìn riêng, một quan điểm riêng của nó đối với thế giới, và phải có một cái nhìn vào bên trong thương hiệu của mình để tự hỏi “liệu thương hiệu (chứ không phải sản phẩm) của tôi sẽ đem lại điều gì tốt đẹp cho Việt Nam và thế giới?”.

Thưở ban đầu, những lý tưởng lớn còn mang tính “chức năng”: Ford tin rằng nước Mỹ sẽ trở nên tốt đẹp hơn nếu không chỉ tầng lớp thượng lưu quí tộc mà mỗi gia đình Mỹ đều có một chiếc xe ô-tô (đó là lý do tại sao người ta gọi ông là người “dân chủ hóa” ngành xe hơi). Bill Gates tin rằng thế giới sẽ trở nên tốt đẹp hơn nếu như mỗi một người đều có một máy tính chứ không chỉ những viện nghiên cứu hay trường đại học. Viettel tin tưởng rằng Việt Nam sẽ trở nên tốt đẹp hơn nếu như tất cả mọi người đều được dùng điện thoại di động.

Nhưng càng về sau, những giá trị này càng mang tính tinh thần, hay “lợi ích cảm tính”: Starbucks tin rằng thế giới sẽ trở nên tốt đẹp hơn nếu con người luôn có một nơi thứ ba để suy ngẫm. Fanta tin rằng thế giới sẽ trở nên tốt đẹp hơn nếu con người lớn chậm đi và có nhiều thời gian hơn cho tuổi thơ. Louis Vuitton tin rằng con người sẽ trở nên tốt đẹp hơn nếu họ phục hưng sự lãng mạn của những chuyến du hành. Adidas tin rằng thế giới sẽ trở nên tốt đẹp hơn nếu con người tin rằng không có gì không thể.

Đó đều là những giá trị mang tính nhân văn, nhưng những giá trị mang tính nhân văn như vậy đều xuất phát từ hiểu biết sâu sắc của họ về những giá trị mà thế giới đang thiếu, chưa quan tâm hay đánh mất dần đi, đồng thời, những giá trị nhân văn này cũng giao thoa với những giá trị cốt lõi của thương hiệu mà họ sở hữu.

Cho nên, nếu như coi “sức sáng tạo” là giá trị mà Trung Nguyên đưa tới cho đất nước và con người Việt Nam (hay cho thế giới) thì cần phải đi tiếp một bước nữa sâu hơn: quan điểm về “sức sáng tạo” của Trung Nguyên là gì, lợi ích cảm tính mà “sức sáng tạo” sẽ đóng góp cho xã hội hay con người Việt Nam là gì, và làm cách nào để “thu hẹp hóa” và “cá biệt hóa” quan điểm của Trung Nguyên về tính sáng tạo, điều mà chúng ta thấy Đặng Lê Nguyên Vũ chưa làm được.

Nhưng vấn đề ở chỗ, một “lý tưởng lớn” chỉ được mọi người tin, ủng hộ và cùng theo đuổi nếu như lời nói đi đôi với việc làm (walk the walk and talk the talk).

Sẽ rất khó để mọi người tin theo rằng giá trị thực sự của Trung Nguyên là “tính sáng tạo” nếu như Trung Nguyên vẫn giữ màu sắc ảm đạm và âm u trong màu chủ đạo như hiện nay, rất khó để người ta tin ở “tính sáng tạo” của Trung Nguyên nếu như họ vẫn viết ra những lời lẽ đại ngôn đao to búa lớn và phần lớn là vô nghĩa như “Cà phê là Báu vật của Trời đất, là Di sản của Nhân loại và Giải pháp của Tương lai””, sẽ rất khó để người ta tin ở “tính sáng tạo” của Trung Nguyên nếu như câu khẩu hiệu của họ “chỉ có thể là Trung Nguyên” nghe như vừa len lén ôm xuống từ câu khẩu hiệu nổi tiếng “chỉ có thể là Heineken”, sẽ rất khó để có thể để người ta tin ở “tính sáng tạo” của Trung Nguyên nếu như họ vẫn tiếp tục sử dụng đội ngũ “người ảnh hưởng” mang đậm màu sắc hàn lâm già cỗi như hiện nay.

Lời nói không được chứng thực bằng việc làm, không nhất quán với thể hiện bên ngoài sẽ khó được công chúng chấp nhận và tin tưởng. Và vậy thì “lòng yêu nước” đứng ở đâu trong giá trị “tính sáng tạo”? Hãy bỏ qua việc đánh giá sự láu cá của ông chủ cà phê Trung Nguyên trong việc đòi hỏi thương hiệu của mình được “bao cấp” thêm “lòng yêu nước”-nhưng chỉ đứng thuần túy trên góc độ truyền thông, thì cùng một lúc xây dựng hai thông điệp hướng tới xã hội là điều hoàn toàn nên tránh.

Kêu gọi lòng yêu nước, ủng hộ hàng nội một cách rầm rộ có thể tăng cường nhận biết về thương hiệu Trung Nguyên, nhưng sẽ làm công chúng lẫn lộn và cuối cùng là nhầm lẫn những giá trị cốt lõi của thương hiệu này, và chính điều đó sẽ dẫn đến việc Trung Nguyên đánh mất bản sắc của thương hiệu mình, một bản sắc mà có thể có một số người cho rằng Trung Nguyên chưa bao giờ có (để lo đánh mất)

 

Đây cũng là điều thứ hai mà các thương hiệu nội địa cần tránh, nếu như thực sự họ có tham vọng xây dựng một thương hiệu toàn cầu. Đó là cái mà năm 2006, trong phát biểu nhân kỷ niệm 10 năm tập đoàn Ogilvy đặt chân vào Việt Nam, tôi gọi là cái bẫy “hội chứng thương hiệu Việt”.

Những suy nghĩ và phát biểu mang màu sắc “dân tộc chủ nghĩa” khó có chỗ đứng trong một thế giới phẳng như hiện nay- thế giới luôn hoan nghênh và chấp nhận những bản sắc riêng biệt- văn hóa thế giới hiện nay là một bức tranh khảm đa màu sắc, và mỗi một sợi chỉ là một màu sắc riêng biệt của một dân tộc, thậm chí một cá nhân-nhưng thế giới hiện đại mở ra đón nhận chứ không chấp nhận loại trừ.

Quay lưng lại với những giá trị chung của thế giới, dựa vào “tính lạ” của xuất xứ sản phẩm (“sản xuất từ vùng cao nguyên của Việt Nam”) trong khi sức hấp dẫn của “tính lạ” đó còn nhiều tranh cãi, một thương hiệu khó có thể thành công trong thị trường toàn cầu này.

Điều thứ ba, và cũng là điều cuối cùng mà tôi muốn nói, đó là một thương hiệu phải hiểu rằng, đừng hi vọng sự xuất hiện của anh ở thị trường thế giới là tấm passport đảm bảo cho thành công của anh và là cái cớ để anh lờ đi những thất bại ở thị trường nội địa. Làm sao anh có thể thành công ở một thị trường xa lạ với anh về văn hóa, nhận thức, tập quán, ngôn ngữ nếu như anh chưa chinh phục được khách hàng của thị trường nội địa? Mở một vài cửa hàng ở Nhật Bản, Singapore, Mỹ và gọi đó là “chinh phục thị trường thế giới” chỉ là một ảo tưởng mà thôi.

TheoNguyễn Thanh Sơn, T&A Ogilvy
Qua: Infonet

Source: http://www.brandsvietnam.com/2857-Khau-hieu-cua-Trung-Nguyen-vo-nghia-ve-truyen-thong

Phác họa vẻ đẹp điển hình của phụ nữ

Các nhà tâm lý học ở Anh vừa thực hiện một cuộc nghiên cứu, khắc họa nhan sắc điển hình của các cô gái đến từ những quốc gia khác nhau, trong đó có Việt Nam.

Thông thường, khi một phụ nữ được nhận xét là có nhan sắc “trung bình”, hẳn người phụ nữ đó sẽ khôngcảm thấy vui mừng nhưng nếu nhìn vào những bức chân dung dưới đây, rất nhiều phụ nữ sẽ cảm thấy ngạc nhiên trước mức độ xinh đẹp của những cô gái sở hữu nhan sắc “trung bình” ở nước mình.

Những bức hình này được tạo ra từ một phần mềm trộn ảnh trên máy tính, cho thấy một cô gái sở hữu nhan sắc trung bình với các đường nét phổ biến nhất. Một nhan sắc tưởng như “dễ bị đụng hàng” hóa ra lại thật xinh đẹp. Mỗi bức ảnh dưới đây đều được máy tính tạo thành từ hàng trăm bức ảnh ghi lại chân dung của hàng trăm phụ nữ đến từ một quốc gia nào đó.

Các nhà nghiên cứu tâm lý học ứng dụng ở trường Đại học Glasgow, Anh đã sử dụng một công cụ trộn ảnh đặc biệt trên máy tính, giúp nhận dạng những đường nét khuôn mặt chung nhất, phổ biến nhất nhằm tạo nên chân dung của một phụ nữ được cho là sở hữu nhan sắc trung bình nhưng mang tính điển hình của mỗi quốc gia.

Theo những nghiên cứu về mỹ học, vẻ đẹp dễ được chấp nhận nhất là vẻ đẹp thân thuộc, phổ biến, vì vậy, những cô gái này tuy sở hữu nhan sắc “trung bình” với các đường nét không có gì nổi bật thực ra lại rất “ưa nhìn”.

Kết quả mà trường Đại học Glasgow đưa ra ban đầu gặp phải một số ý kiến phản đối vì cho rằng nhan sắc trung bình không thể đẹp như vậy. Sau đó, đã có nhiều luồng ý kiến phản hồi cho rằng điều này hoàn toàn đúng theo quy luật trung bình vì theo quy luật này, những nét nổi trội, ưu việt và những nét nhược điểm, thiếu sót đều sẽ bị loại bỏ, tạo thành một gương mặt điển hình, phổ biến, “dễ coi”.

Thực tế, phương pháp nghiên cứu gương mặt điển hình đã có lịch sử ra đời từ hơn một thế kỷ nay. Trước đây, nhà nhân loại học Francis Galton, một người anh em họ của nhà bác học Charles Darwin (cha đẻ của học thuyết tiến hóa) đã đi tiên phong trong lĩnh vực nghiên cứu về gương mặt điển hình của các dân tộc hồi thập niên 1880.

Thời kỳ đó do công nghệ còn quá hạn chế nên mọi công việc đều phải thực hiện bằng tay. Francis Galton khi đó đã vẽ phác họa các bức chân dung phụ nữ chồng lên nhau để tạo thành một gương mặt điển hình.

Ngoài ra, dựa trên kết quả được tạo thành từ các bức chân dung khắc họa nhan sắc điển hình, có thể nhận thấy đây cũng đồng thời là những vẻ đẹp tự nhiên lý tưởng của mỗi dân tộc và kết quả này cũng hoàn toàn phù hợp với quan niệm phụ nữ là phái Đẹp.

standard-face-1

standard-face-2

standard-face-3

standard-face-4

standard-face-5