Category Archives: Multimedia

The Editor, Unsung Hero of Great Storytelling

The editor: a job that if done well goes unnoticed. To be a good editor, one must feel the rhythm of a scene, be able to convey seamless emotion, and convince you, the viewer, of the truth unfolding on the screen. In this super-cut by Every Frame a Painting, the job of the editor is broken down by example. The greatest scenes in cinema would be lifeless without the masterful and instinctual slicing and splicing made by the editor.

“There is an in-built relationship between the story itself and the rhythm by which you tell it,” says noted Editor Walter Murch. “Editing is 70% about rhythm,” he estimates. The greatest storytellers can use this principle of rhythm to draw you into the story. Predominantly in the smallest nuances of life portrayed on screen, the flow of the editor’s cut is what allows you to enter the world created. It is an instinct: knowing when to cut at the right moment and when to wait. “One of the things Marty has always encouraged me to do is to hold the scene just a little too long,” remembers Thelma Shoonmaker from working with famed director Martin Scorsese. Each decision to hold or cut can have dramatically different effects on the viewer.

A great editor considers many great questions. How is the emotion playing out? How many frames does a specific feeling need? Considering each and every move of the story being told allows room for a viewer to enter the world being depicted. The editor operates on instinct; it’s a natural process of knowing when to cut. The best editors are the ones that can feel the story. So, If editing is so instinctual, how do you learn it? Every Frame a Painting answers this question and will change the way you consider your favorite films.

[via Every Frame A Painting]

 

Comment from web: When to cut and when to keep rolling! I just come back for youtube watching the new Tony Zhou’s video essay and I find this article ! Such a great way to continue the conversation ! Thank you ! So I will to this sentence of yours : “It is an instinct: knowing when to cut at the right moment and when to wait”. It shows us how much an editing is personal. Some people are focussing of moving the plot forward to tell their story and some are more contemplative filling no shame to old their shots. A very good exemple of that is the video essay : What is neorealism ?

 

Source: https://fstoppers.com/video/editor-unsung-hero-great-storytelling-130221

Advertisements

Thiết kế phẳng (flat design)

Trong nhiều tháng nay có thể bạn đã nghe nhiều về cụm từ thiết kế phẳng (flat design) khi nó được cho là thay đổi lớn nhất trên iOS 7 sắp ra mắt. Để giải thích cho triết lý thiết kế này, nhiều người gắn liền nó với giao diện Metro UI trên Windows 8 nhưng phần lớn chúng ta vẫn chưa hiểu rõ cũng như tại sao nó lại trở thành xu hướng thiết kế hiện tại. Thiết kế phẳng nhấn mạnh vào sự đơn giản tối đa và đi ngược lại hoàn toàn so với triết lý thiết kế mô phỏng (skeuomorphic) đề cao cái đẹp và đồ họa phức tạp. Thiết kế phẳng ra đời từ trước khi Microsoft phát triển Windows 8 nhưng không thể phủ nhận rằng Microsoft đã góp phần phổ biến nó rộng rãi hơn.

Thiết kế phẳng là gì?

Thiết kế phẳng (flat design) được coi là một triết lý thiết kế theo chủ nghĩa tối giản, tức mọi thành phần đồ họa được làm cho đơn giản nhất với những đặc tính như màu sắc rõ ràng, góc cạnh, không gian mở và tất cả được thể hiện dạng hai chiều. Một ví dụ điển hình về giao diện phẳng mà bạn có thể thấy rõ nhất là Metro UI trên hệ điều hành Windows 8 của Microsoft hoặc giao diện trên hệ điều hành Windows Phone. Ở màn hình chính, bạn sẽ thấy một giao diện với những mảng màu tách biệt nhau hoàn toàn, chúng không được thiết kế dạng ba chiều hay dạng mô phỏng (skeuomorphic) mà ở đó sự đơn giản được đặt lên hàng đầu.

windows8

Triết lý thiết kế này ra đời gắn liền với phong cách tối giản (minimalist) tuy nhiên sự đơn giản không có nghĩa thiết kế phẳng gây nhàm chán cho người dùng. Trong triết lý thiết kế phẳng, những thành phần đồ họa đẹp mắt và chi tiết được xem như là không cần thiết. Nếu một yếu tố nào đó coi như không có tác dụng thì nó sẽ gây rắc rối cho trải nghiệm người dùng. Đây chính là lý do mà sự tối giản được đề cao trong thiết kế phẳng. Hơn thế nữa, các màu sắc có độ tương phản cao sẽ gây sự chú ý tốt hơn và hướng mắt người dùng tới vị trí đó.

Thiết kế mô phỏng là gì?

original

Để hiểu được thiết kế phẳng và lý do nó lên ngôi thì bạn cũng nên hiểu thêm về triết lý mà nó chống lại: thiết kế mô phỏng. Nếu bạn chưa nghe tới kiểu thiết kế mô phỏng (skeuomorphic) này là gì thì đó là phong cách vận dụng những cái thực tế vào trong một thiết kế nào đó. Để cho dễ hiểu hơn, biểu tượng của đồng hồ sẽ giống như chiếc đồng hồ ngoài đời thực, biểu tượng máy tính sẽ có hình dáng của một máy tính thông thường… và hơn thế nữa. Nếu như Microsoft được biết đến với thiết kế phẳng thì Apple lại rất ưa chuộng thiết kế mô phỏng trên những sản phẩm phần mềm gần đây của hãng. Không chỉ có vậy, Apple vận dụng khá nhiều và hiệu quả triết lý thiết kế này, phần nào giúp những phần mềm của họ nổi bật và đẹp mắt hơn. Hình ảnh bên trên là những ví dụ điển hình về skeuomorphic tại Apple.

Thiết kế phẳng là giải pháp cho những vấn đề của thiết kế mô phỏng

Dù được đầu tư nhiều với giao diện ba chiều đẹp mắt nhưng thiết kế mô phỏng không phải không có vấn đề. Triết lý này dựa hoàn toàn vào những vật thể trong đời sống hàng ngày vì thế nó phần nào làm hạn chế sức sáng tạo cũng như tính hiệu quả trong thiết kế. Bên cạnh đó, các thành phần thiết kế không đồng nhất khi kết hợp với những thành phần thiết kế hai chiều hoặc ít “chiều” hơn. Đôi khi thiết kế mô phỏng chẳng mang lại ý nghĩa gì cả, lấy ví dụ với ứng dụng Find My Friends (tìm bạn bè xung quanh), nền của nó được làm để giống da thuộc màu vàng kem nhưng nó chẳng có chút thực tế nào cả. Ngoài ra, nó sẽ trở nên khập khiễng khi kết hợp với những yếu tố khác không được làm theo hiệu ứng mô phỏng.

widgetosx
Giải thích hình ảnh: Trong hình là cửa sổ widget của OS X với các widget được thiết kế mô phỏng theo đồ vật trong thực tế. Đồng hồ được làm giống với một chiếc đồng hồ thật nhưng nó gây khó khăn khi xem giờ hơn là bảng hiển thị điện tử. Widget máy tính cũng khó sử dụng hơn là tính toán trực tiếp với Spotlight.

Dựa vào những vấn đề của triết lý thiết kế mô phỏng mà thiết kế phẳng ra đời với hai hướng đi hoàn toàn khác nhau. Toàn bộ những giới hạn và điểm yếu của triết lý mô phỏng đều được loại bỏ trên thiết kế phẳng để mang lại trải nghiệm người dùng đơn giản và hiệu quả hơn. Những năm 1984 khi Apple giới thiệu giao diện đồ họa người dùng (GUI) đầu tiên thì thiết kế mô phỏng bắt đầu được ứng dụng nhiều để giúp người dùng quen với các khái niệm lạ lẫm trên máy tính (hãy nghĩ tới thư mục, desktop, thùng rác…) nhưng sau này, khi máy tính đã quá phổ biến thì người ta không cần tới những mô phỏng để hiểu chức năng của một biểu tượng hay một nút nào đó. Thiết kế mô phỏng bắt đầu trở nên thừa thãi. Những người theo chủ nghĩa hiện đại cho rằng đừng nên thêm những chi tiết mà không có chức năng gì vào trong một thiết kế ngày nay.

Những nguyên tắc của thiết kế phẳng

Task-app

Cái tên thiết kế phẳng bắt nguồn từ hình dạng của nó, tức hai chiều và dạng phẳng đơn thuần. Ý tưởng về triết lý này được hình thành mà không có các thành phần bao gồm hiệu ứng đổ bóng, góc xiên, đường gờ rập nổi, nền dạng hạt (không mịn) hoặc những công cụ khác tạo chiều sâu cho thiết kế đó. Không có bất cứ thành phần nào bên trên được cho vào trong thiết kế phẳng nhằm mục đích mô phỏng thực tế cả. Thiết kế phẳng không có những hiệu ứng thêm vào.

tripfinder

Thiết kế phẳng sử dụng nhiều thành phần giao diện người dùng đơn giản như các nút chức năng hay các biểu tượng chương trình (icon). Những nhà thiết kế chủ yếu dùng các dạng hình phổ biến gồm hình chữ nhật, hình tròn hoặc hình vuông cho thiết kế phẳng, điều này giúp chúng có thể đứng riêng biệt với nhau. Không nhất thiết phải cắt góc vuông mà những dạng hình trong triết lý thiết kế này có thể được uốn cong mềm mại. Người dùng có thể dễ dàng chạm hoặc bấm vào những thành phần giao diện này mà không gặp rắc rối gì, nó được làm cho trực quan để người dùng không có nhiều kiến thức về thiết kế có thể hiểu được. Thành phần đơn giản được sử dụng chủ yếu trong thiết kế phẳng.

weather

Vì tính đơn giản trong các thành phần thiết kế phẳng nên việc sắp xếp ký tự nghệ thuật(typography) cũng đặc biệt quan trọng. Kiểu typeface phải phù hợp với giao diện tổng thể của thiết kế đó, nói cách khác thiết kế phẳng đơn giản thì kiểu chữ, font chữ được sử dụng cũng phải đơn giản để phù hợp với không gian chung. Vì thế, thiết kế phẳng cũng cần phải tập trung vào typography bên cạnh những thành phần đồ họa.

Filetypes

Màu sắc là yếu tố đặc biệt quan trọng trong thiết kế phẳng. Màu sắc ở đây thường đậm và khá đa dạng về màu sắc so với những kiểu thiết kế trước đây. Trong khi hầu hết các bảng màu (palette màu) sử dụng hai hoặc ba màu sắc thì bảng màu trong thiết kế phẳng sử dụng từ 6 tới 8 màu sắc. Ngoài ra, màu sắc có độ bão hòa cao và khá rực rỡ. Màu sắc cũng được đề cao như typography.

Thiết kế phẳng đang là trào lưu

Dù thiết kế phẳng đang được ứng dụng ngày một nhiều trong thiết kế nhưng nó không phải là mãi mãi khi một triết lý mới sẽ thay nó trong tương lai. Chúng ta chưa thể đoán xu hướng nào sẽ lên ngôi sau thiết kế phẳng nhưng hãy cứ hài lòng với hiện tại, với thiết kế phẳng. Dù Apple chưa khẳng định nhưng tin đồn cho rằng iOS 7 sẽ đi theo triết lý này và khác hoàn toàn so với phiên bản iOS hiện tại. Chúng ta có thể đoán ra được điều đó bởi Apple đã thay quản lý trưởng mảng iOS cũ là Scott Forstall bởi Jony Ive, nhà thiết kế quan trọng bậc nhất của Apple.

16-bit và 24-bit. Nghe hay là sưu tầm?

Trong giai đoạn hiện nay, mặc dù thú chơi đĩa vinyl vẫn tồn tại và tiếp tục phát triển trong một bộ phận nhỏ của giới audiophile, nhưng nếu xét trên toàn cục, nhạc số vẫn là sự lựa chọn hàng đầu của hầu hết những người yêu nhạc. Nhạc số xuất hiện ở cấp độ người tiêu dùng phổ thông lần đầu tiên vào những năm 1980 nhờ sự ra đời của các hệ thống chơi đĩa compact và yêu cầu được thưởng thức một thứ “âm thanh hoàn hảo” của người dùng.

Trong giai đoạn đầu, âm thanh nhạc số thường bị chê là khô và cứng. tuy nhiên, với những tiến bộ về mặt công nghệ, trong những năm gần đây, các audiophile đã có thể thưởng thức các bản nhạc số với âm thanh mềm và mịn không kém gì chất âm do đĩa vinyl tái tạo.

Trong một quãng thời gian dài, nhạc số thường được ghi lại trên đĩa compact ở 16-bit và 44.1 kHz. Tuy nhiên, Audiophile là một trong những chủng tộc tham lam nhất quả đất, do đó các định dạng nhạc số với độ phân giải lên tới 24-bit và 192 kHz nhanh chóng xuất hiện.

Tham lam và mù quáng là một đôi bạn chí thân.

Liệu các định dạng nhạc số có độ phân giải cao có mang đến khả năng tái tạo âm thanh tốt hơn cho chúng ta hay không?

Câu trả lời ngắn gọn là chúng phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố.

Để vén bức màn bí mật, đầu tiên chúng ta sẽ tìm hiểu âm thanh kỹ thuật số ở cấp độ tế bào – tức là bit dữ liêu. Một số người gọi đó là bit rate (tốc độ bit), nhưng chính xác hơn thì bạn nên gọi đó là bit depth (độ sâu bit). Bit đơn giản chỉ là những mã nhị phân (số 0 và số 1) dùng để tạo ra dữ liệu – hay những file nhạc mà chúng ta tải về trên HDvietnam. Bit depth sẽ cho biết số lượng các bit được sử dụng để lưu trữ tín hiệu âm thanh.

Quá trình lưu trữ nhạc ở định dạng kỹ thuật số liên quan đến việc cắt các tín hiệu âm thanh và lưu trữ chúng thành từng lát (slice) dưới dạng mã nhị phân. Khi tín hiệu âm thanh được cắt thành từng lát X-bit thì độ phân giải của tín hiệu mà chúng ta nhận được sẽ là 2X. Ở đây X chính là bit depth còn 2​X là độ phân giải, ví dụ tín hiệu âm thanh 16 bit sẽ có độ phân giải là 65.536 level (216), còn tín hiệu âm thanh 24 bit sẽ có độ phân giải là 16.777.216 level (224).

Nếu như bit liên quan đến level (mức) thì sample rate (tần số lấy mẫu) lại liên quan đến thời gian. Nói cách khác, sample rate cho biết số lần tín hiệu âm thanh được đo và lấy mẫu trong một giây.

Để dễ hiểu hơn, chúng ta sẽ lấy ví dụ thực tế:

– Khi tín hiệu âm thanh được lưu lại ở 16-bit depth với tần số lấy mẫu 44.1 kHz thì mỗi giây tín hiệu nhận được sẽ bị cắt thành 44.100 lát và mỗi lát có 65.536 level.

– Khi tín hiệu âm thanh được lưu lại ở 24-bit depth với tần số lấy mẫu 96 kHz thì mỗi giây tín hiệu nhận được sẽ bị cắt thành 96.000 lát và mỗi lát có 16.777.216 level.

Bây giờ chúng ta sẽ đến phần quan trọng hơn: Liệu các định dạng nhạc số có độ phân giải cao có mang đến khả năng tái tạo âm thanh tốt hơn cho chúng ta hay không?

Đầu tiên, phải thừa nhận rằng âm thanh có độ phân giải cao sẽ chi tiết hơn âm thanh có độ phân giải thấp. Tuy nhiên:

– Chất lượng âm thanh sẽ phụ thuộc vào quá trình thu âm và tín hiệu trước đó. Ví dụ một album có chất lượng thu âm tệ hại thì cho dù ở độ phân giải nào đi nữa thì âm thanh của nó vẫn là thứ tệ hại, hay một file nhạc MP3 có sample rate là 128 thì có chuyển lên độ phân giải bao nhiêu đi nữa thì nó vẫn chỉ là MP3.

– Hệ thống âm thanh quyết định phần còn lại, đặc biệt là bộ DAC mà chúng ta sử dụng.

– Thính giác con người luôn có một giới hạn nhất định, và độ phân giải càng cao thì càng khó phân biệt.

Cùng với những giác quan khác, thính giác là thứ tuyệt vời nhất mà thượng đế đã ban tặng con người. Tuy nhiên, tin buồn là nếu bạn có thính giác ở mức trung bình hoặc thấp hơn thì việc nhận ra sự khác biệt giữa tín hiệu âm thanh 16/44.1 và 24/96 là vô-cùng-khó-khăn. Nói chung, phần lớn người nghe chỉ nhận thấy được sự khác biệt giữa MP3 và 16/44.1 mà thôi. Tất nhiên điều này chỉ xảy ra trên những hệ thống âm thanh thực sự tốt.

Tại sao lại có tần số lấy mẫu trên CD là 44.1 chứ không phải là con số quái quỉ nào khác?

Như chúng ta đã biết, tai người bình thường có thể nghe được âm thanh với tần số từ 20 Hz đến 20 kHz, theo định lý Nyquist thì tần số lấy mẫu tối thiểu phải là 40 kHz.

(Định lý Nyquist: Một tín hiệu không chứa bất kỳ thành phần tần số nào lớn hơn hay bằng một giá trị fm có thể biểu diễn chính xác bằng tập các giá trị của nó với chu kỳ lấy mẫu T = 1/2fm)

Tuy nhiên, thay vì lấy luôn 40 kHz thì Sony lại phải chọn 44.1 kHz để đáp ứng một số yêu cầu về kỹ thuật. Dù sao đi nữa, tần số lấy mẫu 44.1 kHz sẽ tương đương với hơn tần số âm thanh 22 kHz và chứa tất cả các tần số âm thanh mà con người có thể nghe thấy.

Hiện nay, sự phát triển và đa dạng của công nghệ am thanh khiến tần số lấy mẫu trở nên đa dạng hơn. Con số chúng ta thường thấy bao gồm 44.1, 48, 88.2, 96 và thậm chí là 192khz. Trong khi đó, số bit depth cũng phong phú không kém với 16, 18, 20, 24 hay 32-bit. Thật kinh khủng!

Liệu có sự khác biệt âm thanh giữa file nhạc 16-bit và 24-bit hay không?

Trong một thời gian dài thì tín hiệu 16 bit từ đĩa CD đã trở thành chuẩn phổ biến, tuy nhiên hiện nay chúng ta vẫn dễ dàng tìm kiếm những bản ghi âm có độ phân giải lên tới 24-bit hay kinh khủng hơn là 32-bit.

Bit depth là một câu chuyện khá dài và phức tạp. Ở đây chúng ta chỉ nói vắn tắt mà thôi:

Về cơ bản, đĩa compac 16-bit sẽ có dải động (dynamic rage) lý thuyết là khoảng 96 dB, tín hiệu âm thanh kỹ thuật số 20-bit có dải động là 120 dB và tín hiệu âm thanh kỹ thuật số 24-bit có dải động là 144 dB.

Thông thường, nếu không có gì đột biến, dải động mà tai người có thể tiếp nhận là 140 dB. Nhưng vấn đề là ở chỗ dải động của các bản nhạc trong một phòng hòa nhạc thường không vượt quá 80 dB và dải động của tiếng nói do con người phát ra sẽ không quá 40 dB.

Nên nhớ, một bản thu âm CD thông thường sẽ có giải động 60 dB và chỉ sử dụng 10 bit dữ liệu, 6 bit dữ liệu còn lại chỉ là noise.

Nếu bạn hỏi, sự khác biệt giữa tín hiệu âm thanh 16-bit và 24-bit ư?

Câu trả lời là không nhiều, chỉ khoảng 8 bit chứa những âm thanh vô nghĩa mà thôi.

Bit depth chỉ là không gian để chúng ta nhồi nhét tín hiệu, bit depth càng lớn thì không gian dành cho tín hiệu càng lớn. Tuy nhiên, ở đây là tín hiệu số chứ không phải là tín hiệu analog.

Việc lựa chọn 24-bit hay 16-bit đôi khi giống như việc lái chiếc container hay chiếc xe bán tải để chở một cái tủ lạnh vậy. Với 24-bit bạn sẽ tốn kém hơn trong việc sắm sửa thiết bị, bao gồm cả khoản ổ cứng để lưu trữ nữa. Nếu không tin thì đây là bảng so sánh của một file nhạc có thời lượng 3 phút được lưu giữ theo các định dạng:

Một số hãng thu âm thậm chí phát hành các bản thu âm 32-bit nữa. Đó có thể là những thứ vô nghĩa nhưng lại là mánh khóe quảng cáo tuyệt vời, bởi hầu hết người tiêu dùng đều nghĩ rằng âm thanh có độ phân giải càng cao thì càng chất lượng.


Dù sao đi nữa, nhạc nhẽo cũng chỉ là một thú chơi.

Một thú chơi sẽ trở nên ý nghĩa hơn khi các vật sở hữu ngoài giá trị thưởng thức thì còn có cả giá trị sưu tầm. Hai thứ giá trị này tồn tại song song nhưng lại hoàn toàn tách rời nhau. Nếu như giá trị thưởng thức chỉ mang đến cái sung sướng cho lỗ tai thì giá trị sưu tầm lại có thể khiến người ta sướng đến tận tim óc.

Vấn đề ở chỗ là chúng ta phải biết mình đang thưởng thức giá trị gì?

Nghe và sưu tầm là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau.

Source: http://www.hdvietnam.com/diendan/121-ban-luan-am-nhac/493107-16-bit-va-24-bit-nghe.html

TizzBird N1 firmware update with Google Play Store

Assume that there is a new firmware update for N1 available OTA.

– Go to Android System Settings

– On its original remote control, press the following key in order: Search — Red — Yellow — Blue — Search

– A small notification “GMS Ready” shows up.

– Update firmware.

 

Chặng đường 10 năm ca hát của ‘nữ hoàng phòng trà’ Lệ Quyên (2003-2012)

Cách đây khoảng 10 năm, người yêu âm nhạc Hà Nội và cả nước còn ít biết đến cái tên Lệ Quyên, một cô ca sĩ phòng trà. Nhưng thời gian một vài năm gần đây, Lệ Quyên đã có những bứt phá bất ngờ.

 

Với giọng ca khỏe và đầy cảm xúc, cô ca sĩ Hà Nội đã dần lấy được vị trí của mình trong lòng người yêu âm nhạc với những album: Giấc mơ có thật, Lời yêu còn mãi, Khúc tình xưa, Tình khúc yêu thương
Lệ Quyên là ca sĩ dòng nhạc nhẹ của Việt Nam. Cô tên thật là Vũ Lệ Quyên. Lệ Quyên sinh ngày 2/4/1981 tại Hà Nội.

 

Lệ Quyên có một thời gian dài sinh sống và biểu diễn tại Hà Nội. Hiện nay Lệ Quyên đang thực hiện bước tiến trong sự nghiệp của mình tại Thành Phố Hồ Chí Minh.

 

Năm 2002

 

 

Lệ Quyên theo học Đại học Văn hóa Hà Nội. Sự nghiệp ca hát chuyên nghiệp của cô chỉ bắt đầu từ năm 2002 khi được chọn tham gia hát bài hát của nhà tài trợ cho “See game 22” tại Việt Nam.

 

Có chất giọng tốt cùng ngoại hình khá, Lệ Quyên được xem là giọng ca Hà Nội được khán giả phía Nam đón nhận nhanh chóng với mật độ “ăn bài” khá cao. Tuy nhiên, cô vẫn chỉ được xem là ca sĩ thị trường bị giới chuyên môn “hắt hủi”.

 

Năm 2005

 

Lệ Quyên cho ra mắt khán giả album đầu tay, “Giấc mơ có thật” đưa tên tuổi lạ lẫm của cô đến với khán giả yêu nhạc cả nước. Thành công của album cũng giúp cho Lệ Quyên có chỗ đứng ở thị trường ca nhạc Sài Gòn rộng lớn với luợng khán giả riêng ổn định. Nhiều ca khúc đã trở thành hit ca khúc của năm như: Giấc mơ có thật, Thôi đừng chiêm bao, Trăng chiều, Hãy trả lời em…

 

Lệ Quyên hát “Hãy trả lời em” trên sân khấu Làn sóng xanh 2005
Top 10 ca khúc được yêu thích nhất do khán giả bình chọn

 

Năm 2006

 

Album: Lời ăn năn muộn màng- Trái tim buồn

 

Sau khi phát hành album vol.1, Lệ Quyên có một thời gian vắng bóng mặc dù cô vẫn phát hành album chung với nam ca sĩ Hoàng Thiên Long, một số bài hát tiền chiến trong album “Mắt biếc” cùng với nam ca sĩ Tùng Dương và Tuấn Hiệp.

 

Tuy nhiên, một số ca khúc song ca của Lệ Quyên đã nhận được sự yêu mến của khán giả. Các ca khúc song ca nổi tiếng của Lệ Quyên bao gồm: Con đường màu xanh (với Lê Hiếu), Tình yêu thần thoại (với Đan Trường), Như mùa thu qua (với Lam Trường), Vì anh đánh mất (với Hồ Ngọc Hà).

 

Năm 2007

 

Sau 2 năm khá im hơi lặng tiếng, cô ca sĩ “triển vọng” của Hà Nội
Lệ Quyên trở lại với album Vol 2 “Lời yêu còn mãi”

 

Năm 2008

 

Lệ Quyên phát hành album “Như giấc chiêm bao” với Tuấn Hưng
Đã có những khoảng thời gian, Lệ Quyên và Tuấn Hưng gây khá nhiều tò mò về tình cảm giữa họ: tình bạn – tình yêu. Nhưng khi album “Như giấc chiêm bao” ra mắt công chúng năm 2008, mọi nghi ngờ đều qua đi, để lại là một tác phẩm âm nhạc, chứng minh cho sự ăn ý cũng như tình bạn, tình đồng nghiệp giữa hai người.

 

Năm 2009

 

 

Bẵng hơn ba năm vắng bóng trên thị trường âm nhạc TP.HCM, với công việc kinh doanh đang trên đà phát triển và đã ở “tuổi băm”, có người cho rằng Lệ Quyên đã an phận bỗng nhiên cô ca sĩ gốc Hà Nội này tổ chức giới thiệu với công chúng nghe nhạc album Vol 3 – “Nếu như ngày đó” với nhiều tâm huyết và kế hoạch trở lại sân khấu Sài Gòn.

 

 

Tiếp đó, Lệ Quyên cho ra mắt album “Lệ Quyên Acoustic”. Với Lệ Quyên Acoustic, không gian âm nhạc được cô đọng lại để làm nổi bật lên cái sâu lắng, nồng nàn trong từng phát âm, từng hơi thở, từng nét ngân giọng đặc trưng của Lệ Quyên.

 

Ca khúc “Lầm lỡ” của Lệ Quyên được chọn làm nhạc nền cho bộ phim
truyền hình “13 nữ tù nhân” phát sóng trên kênh VTV3 của Đài truyền hình Việt Nam

Năm 2010

 

Ấp ủ từ lâu để thực hiện album nhạc xưa, Lệ Quyên hoàn thành được mong ước của mình. Một album “Khúc Tình Xưa” với 12 ca khúc nhạc xưa do chính cô biên tập và sự trợ giúp của một ekip chuyên nghiệp ra đời. Những ca khúc xưa cũ được Lệ Quyên thổi “hồn” trong từng câu hát, nắn nót trong từng nốt trầm và buông lơi khi có quãng ngân dài đầy mùi mẫn.

 

Năm 2010, CD nhạc xưa ” Album Khúc tình xưa”  mang âm điệu uyển chuyển của Lệ Quyên

 


Lệ Quyên được lọt vào top 10 ca sĩ Topten Làn Sóng Xanh năm 2010

 


Đặc biệt, thời gian này cô hay xuất hiện bên cạnh một người đàn ông (sau này là chồng cô)

 

Năm 2011

 

Ngày 1/1/2011, Lệ Quyên bất ngờ tổ chức đám cưới khi mang bầu ở tháng thứ 6

 


Dù vừa sinh con chưa bao lâu, ngày 19/5 Lệ Quyên
đã chính thức phát hành album “Để nhớ một thời ta đã yêu”

 

“Để nhớ một thời ta đã yêu” là album mà Lệ Quyên thu âm trước khi sinh em bé và cũng là một trong những công việc chuẩn bị khi cô nghỉ một thời gian khá dài để sinh con.

 

Lệ Quyên khiến cho nhiều người bất ngờ khi cô ngày càng
xinh đẹp với thân hình thon gọn hơn cả trước khi sinh con

 

Tiếp tục tung các cú bùng nổ, Lệ Quyên cho ra mắt album “Khúc tình xưa 2”

 

Thành công ấn tượng của album “Khúc tình xưa” là động lực cho Lệ Quyên theo đuổi dòng nhạc xưa. Album “Khúc tình xưa 2 – Trả lại thời gian” cùng một liveshow giới thiệu album này tại Nhà hát Thành phố Tp.HCM được tổ chức vào 25/12.

 

Liveshow này có sự góp mặt của các khách mời nổi tiếng của dòng nhạc xưa

 


Đây cũng là liveshow đầu tiên trong sự nghiệp ca hát của Lệ Quyên

Năm 2012

 

Lệ Quyên ra album “Tình khúc yêu thương“. Đầu tư nghiêm túc cho những ca khúc dường như đã “bỏ quên” nên khi vào phòng thu, Lệ Quyên đã hát bằng chính cảm xúc của mình. Album là 12 bản tình ca xuất sắc trong vòng 15 năm trở lại đây.

 

Album Lệ Quyên – Tình Khúc Yêu Thương

 

Tháng 6/2012 liveshow thứ 2 trong sự nghiệp mang tên “Tình khúc yêu thương”

 


Khán giả được xem phần trình diễn của 5 giọng ca nữ:
Lệ Quyên,Thu Minh, Hồ Ngọc Hà, Hiền Thục, Uyên Linh

 

Sau gần 5 tháng chuẩn bị, mới đây DVD liveshow Tình khúc yêu thương của Lệ Quyên đã chính thức phát hành trên toàn quốc.

 


Tháng 11/2012 DVD liveshow 2 “Tình khúc yêu thương” ra mắt với khán giả yêu nhạc

 

Sau khi ra mắt DVD liveshow, Lệ Quyên sẽ tiếp tục thực hiện đêm nhạc riêng vào ngày 8/12/2012 tại TP. HCM.

Source: http://giaitri.tinmoi.vn/chang-duong-10-nam-ca-hat-cua-nu-hoang-phong-tra-le-quyen-d3755.html

HDMI cable – the fact

Tại sao tất cả các loại cáp HDMI là như nhau

Cáp HDMI hiện nay có rất đa dạng về chủng loại lẫn giá cả .

Hàng chục công ty có uy tín và “vô uy tín” thi nhau đưa ra các loại cáp với những cái gọi là “lợi thế” của họ.

Điều đáng buồn là tiềm năng lợi nhuận của những sợi dây đồng này rất lớn, các nhà bán lẻ đẩy giá cáp HDMI cao cấp lên ngút trời với hi vọng lừa của người tiêu dùng vài chục thậm chí hàng trăm đô và hơn nữa.

Tuy nhiên, như mọi người đều biết “CÁC LOẠI CÁP HDMI ĐỀU LÀ NHƯ NHAU”.

Trước tiên chúng ta phải hiểu được chuyện gì xảy ra ở thượng nguồn.

HDMI sử dụng tín hiệu số TMDS (Transition Minimized Differential Signaling). TMDS có hai khía cạnh cơ bản.

Đầu tiên là các tín hiệu được truyền đi dưới dạng số nhị phân (1 và 0). Nếu dãy số 1 và 0 tại nguồn (đầu đọc Blu-ray hoặc truyền hình cáp HD) không được sắp xếp chính xác thì thứ chúng ta nhận được cũng sẽ không chính xác . Trước khi gửi tín hiệu, các số 1 và 0 được sắp xếp lại để giảm thiểu quá trình chuyển đổi (ví dụ: 10101010 sẽ trở thành 1111000 trong quá trình chuyển đổi).

Phần thứ hai của TMDS là ở cáp HDMI. Mỗi cáp HDMI là tập hợp nhiều sợi dây đồng nhỏ. Hai phiên bản dữ liệu được gửi qua hai dây khác nhau. Một trong đó là “tín hiệu thật”. TV nhận tất cả các dữ liệu, đặt các tín hiệu lệch pha lại và so sánh nó với tín hiệu thật. Bất kỳ tín hiệu nào bị nhiễu hoặc hư hỏng đều bị loại bỏ.

TMDS là một công trình thật sự tốt, nó cho phép các tất cả các cáp ngắn hay dài đều có thể chuyển đổi dữ liệu một cách mạnh mẽ. Hay nói cách khác, các loại cáp đắt tiền và rẻ tiền đều có giá trị sử dụng như nhau (Giống như bạn bơm nước qua một đường ống, thứ nước mà bạn nhận được đều là như nhau cho mọi loại ống)

Vấn đề qua trọng ở đây là, cái gì sai thì nó thật sự sai. Đối với tín hiệu HDMI, bạn có thể nhận được một thứ hoàn hảo hoặc không nhận được gì cả.

Source: http://www.hdvietnam.com/diendan/60-thiet-bi-hinh-anh/164161-tai-sao-tat-ca-cac-loai.html

Dây HDMI có giá cao thấp khác nhau là do nhiều yếu tố hợp thành (ví dụ: hình thức, vật liệu, độ bền, thương hiệu, phân phối lưu thông,…). Nhưng cái đó không đủ để nói lên dây đó truyền tín hiệu có tốt hay không, hay là chỉ hơn nhau ở cái độ bền cơ học. Rất nhiều người nhầm lẫn giữa yếu tố “cơ học” (hình thức, vật liệu, độ bền, thương hiệu, phân phối lưu thông,…) với chất lượng truyền dẫn tín hiệu; thế nên cứ tranh luận liên miên không tập trung và cũng chẳng đi đến cái gì cụ thể và cô đọng. Phải thừa nhận rằng chất lượng “cơ học” của dây có ảnh hưởng phần nào đến chất lượng truyền tải tín hiệu của dây HDMI, nhưng đấy là với dây chất lượng quá thấp hoặc quá dài thôi, còn dây có giá sàn sàn nhau và dây ngắn thì rất khó khẳng định sự sai khác. Bản thân tôi đã thử nghiệm 2 sợi 1,8m và 15m có giá <500K với tiêu chí chạy cùng 1 chương trình HD ra TV 37″ và không có căn chỉnh gì ở đầu phát và TV, thì nhận thấy: bằng mắt thường với trình độ hiểu biết về hình ảnh và âm thanh vào loại trung bình như tôi thì không phân biệt được có gì sai khác về chất lượng hình ảnh và âm thanh. Còn độ bền của dây thì lại là chuyện khác nhé (nhất là những dây hay phải thao tác rút ra cắm vào nhiều)

Source: http://www.hdvietnam.com/diendan/60-thiet-bi-hinh-anh/164161-tai-sao-tat-ca-cac-loai-7.html#post1623262

Vài hình ảnh  so sánh: