Category Archives: Internet

Hàng vạn lái xe có nguy cơ bị tước giấy phép vì… 3G tăng giá (10/2013)

10/2013

Chiều 23.10, Hiệp hội Vận tải ôtô Việt Nam đã có văn bản số 097/HHVT-TV kêu cứu gửi Bộ GTVT và các ngành chức năng trước nguy cơ hàng nghìn DN, hàng vạn lái xe có thể bị phạt với hình thức cao nhất là tước GPLX; bởi giá cước 3G tăng đã vô hiệu hóa các thiết bị giám sát hành trình.
Công văn của hiệp hội nêu rõ: “Theo Nghị định 91, các doanh nghiệp vận tải đã lắp đặt và khai thác sử dụng thiết bị giám sát hành trình để báo cáo tình hình hoạt động phương tiện cho các sở giao thông vận tải và Tổng cục Đường bộ.
Mỗi TBGSHT đều phải sử dụng 1 SIM thuê bao di động để truyền phát dữ liệu về máy chủ. Song từ ngày 16.10.2013, TCty Viễn thông Quân đội (Viettel) đã thực hiện việc điều chỉnh giá cước với cách tính cước tăng “nhảy vọt” gấp nhiều lần, dẫn đến hàng vạn TBGSHT ngừng hoạt động do không truyền phát dữ liệu về máy chủ được.
Hiệp hội phân tích: Trong khi các thiết bị truy cập mạng di động phổ biến hiện nay như smartphone, máy tính bảng, USB 3G… có phiên truyền tin lớn với lưu lượng từ vài chục KB đến hàng MB và sử dụng băng thông lớn (2.5G, 2.75G, 3G) thì hầu hết các TBGSHT có đặc điểm khác biệt là: Truyền tin ở tốc độ thấp với tần suất truyền định kỳ từ 5-60 giây/bản tin, mỗi bản tin dung lượng rất nhỏ cỡ ~ 64-256 byte với yêu cầu tốc độ truyền thấp thường chỉ vào khoảng dưới vài chục Kb/s.
Với đặc điểm truyền tin dung lượng thấp nêu trên, hầu hết các TBGSHT hiện nay đều sử dụng các gói cước Laptop40, Mi10, đặc biệt phổ biến gói Mi10 và Laptop Easy với mức cước hằng tháng từ 10.000đ/tháng đến 40.000đ/tháng. Song từ ngày 16.10.2013, Viettel đã điều chỉnh giá cước theo chiều hướng tăng quá cao.
Cụ thể: Đối với thuê bao Dcom: 200đ/MB (trước 16.10.2013 là: 60đ/MB), tăng 333% cước phí. Đối với thuê bao di động (gói Mi): 25đ/50KB (trước 16.10.2013 là: 2,5đ/10KB) tăng 20 lần cước phí đồng thời điều chỉnh block tính cước: 50KB + 50KB thay cho 10KB+10KB. Chính việc điều chỉnh cách tính cước này đã gây ra sự gia tăng hơn hàng trăm lần lưu lượng truyền phát so với trước đây (vì mỗi lần truyền phát dữ liệu cho dù chỉ 0.1KB cũng bị làm tròn thành 50KB), làm cho các SIM thuê bao nhanh chóng hết tiền, dẫn đến TBGSHT ngừng hoạt động trên diện rộng.
Cũng theo hiệp hội: Tính đến ngày 21.10.2013, đã có hàng vạn TBGSHT mất tín hiệu bởi tài khoản thuê bao hết tiền, hàng ngàn doanh nghiệp vận tải đứng trước nguy cơ mất kiểm soát phương tiện và bị rút phép kinh doanh vận tải vì TBGSHT không truyền phát dữ liệu theo Nghị định 91, hàng vạn lái xe nguy cơ bị phạt, tước giấy phép lái xe 30 ngày và phạt 2,5 triệu đồng theo Nghị định 71.
Trước những vấn đề nêu trên, Hiệp hội Vận tải ôtô Việt Nam kiến nghị Viettel áp dụng cách tính cước đúng theo lưu lượng truyền tin thực tế (không tính theo block) đối với các gói cước nói trên để các doanh nghiệp vận tải không bị trả “oan” cước tăng vọt làm đội chi phí đầu vào, ảnh hưởng đến sức cạnh tranh của vận tải ôtô, kiến nghị Bộ GTVT và Bộ Công an không xử phạt các xe bị ngừng TBGSHT vì hết tiền cước thuê bao.
Điều đáng lo ngại hơn cả là việc thay đổi cách tính cước đã vô hiệu hóa chủ trương giám sát tốc độ xe nhằm kiềm chế TNGT, vì vậy hiệp hội kiến nghị Viettel hãy hỗ trợ các DN vận tải vượt qua khó khăn trong giai đoạn hiện nay bằng việc giữ nguyên cách tính cước cho các TBGSHT.
Phó Thủ tướng yêu cầu kiểm tra tăng giá cước 3G. Sau khi dư luận phản ánh 3 DN viễn thông di động VinaPhone, MobiFone và Viettel đồng loạt tăng giá cước dịch vụ 3G vào ngày 16.10.2013, có dấu hiệu vi phạm Luật Cạnh tranh, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải đã yêu cầu Bộ Công Thương chỉ đạo cơ quan quản lý cạnh tranh khẩn trương kiểm tra. Nếu có dấu hiệu lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vi phạm pháp luật về cạnh tranh thì tiến hành điều tra, xử lý theo đúng quy định của pháp luật và báo cáo Thủ tướng Chính phủ kết quả thực hiện.

Source: http://m.go.vn/news/kinh-te/tin-1547588/hang-van-lai-xe-co-nguy-co-bi-tuoc-giay-phep-vi-3g-tang-gia.htm

Phân tích quá trình nổi tiếng của em “Cà Tưng” dưới góc độ truyền thông (sưu tầm)

1.

PHÂN TÍCH QUÁ TRÌNH NỔI TIẾNG CỦA EM “CÀ TƯNG” DƯỚI GÓC ĐỘ TRUYỀN THÔNG

(Viết theo đơn đặt hàng của infonet – http://bit.ly/14C8qOQ)Dù vô tình hay cố ý thì cô gái này cũng đã được rất nhiều người biết đến và được quan tâm theo dõi. Tôi thì không thích con gái nên chưa coi bất cứ clip nào của cô ấy cả. Chỉ khi được nhà báo hỏi tôi mới lên mạng tìm hiểu thông tin. Nhưng ngay cả như vậy thì nickname của cô ấy với tôi cũng không có gì xa lạ. Vì trong các cuộc gặp gỡ với bạn bè tôi vẫn thấy họ thường xuyên nhắc và bàn tán rất sôi nổi.

Sau khi xem qua một lượt các bài báo, thì tôi có thể hình dung quá trình nổi tiếng của cô gái này trải qua các bước: tung clip thả rông ngực nhảy sexy nhái theo một clip nổi tiếng của Hàn Quốc, ngậm bao cao su, đóng giả làm y tá (vốn là hình ảnh quen thuộc trong các bộ phim cấp 3), đốp chát với một số bạn hot girls, tự nhiên đến sự kiện của Lam Trường và… chắc chắn còn chưa dừng lại.

Có khoảng 90 bài viết trên các tờ báo và trang tin điện tử xoay quanh cô gái này và khoảng 350 ngàn website đăng tải lại để góp phần phát tán thông tin. Để dễ hình dung, có thể so sánh với một cô gái khác cũng có danh xưng hot girl là Mai Thỏ, thì thấy rằng Mai Thỏ có 135 bài báo và 636 ngàn website nhắc tới. Tức là, dù mới “chào sân” được khoảng 2 tuần, Huyền Anh đã nhận được sự quan tâm bằng khoảng 50% so với hot girl “kì cựu” Mai Thỏ. Xét trên phương diện truyền thông, thì kết quả này không tệ một chút nào.

Lý giải nguyên nhân nổi tiếng của cô ấy thì quá đơn giản. Khi xây dựng giáo trình choOffline Truyền thông Trăng Đen cho Start-Up (by Nguyễn Ngọc Long Blackmoon) tôi có nghiên cứu hàng trăm trường hợp “gây xôn xao dư luận” và tổng kết lại thành 16 concepts (ý tưởng) truyền thông bất biến. Soi chiếu qua Huyền Anh, tôi thấy cô ấy đã sử dụng tới 5 cách là Tình dục, Khỏa thân, Gây tranh cãi, Đánh đu và Đúng thời điểm.

Lợi thế “cạnh tranh” cốt lõi của Huyền Anh là ngực khủng, dáng xinh, gương mặt đẹp, tính cách nổi loạn. Và với công chúng mục tiêu của cô ấy là đàn ông thì chẳng còn gì có thể hấp dẫn hơn. Cô gái này đã biết khai thác triệt để các thế mạnh đó của mình để thu hút đám đông. Bất cứ ai có đầy đủ các “tố chất” như vậy cũng sẽ nổi tiếng chứ chẳng riêng gì cô ấy. Chiêu trò này kia – nếu có – chỉ là để rút ngắn quá trình đó lại và đóng vai trò như một điểm bùng phát để mọi thứ bắt đầu lan truyền mạnh mẽ, còn không thì cô ấy có thể chẳng cần làm gì đặc biệt, cứ không mặc áo lót, nhe răng ra cười và lắc ngực từ clip này qua clip khác thì vẫn khiến mọi người bu lại xem rồi.

Do First Impact (Ấn tượng ban đầu) cô ấy tạo ra quá lớn, cho nên bây giờ nhất cử nhất động đều được dư luận quan tâm. Huyền Anh đã đưa cái tên của mình tới ngưỡng tự viral rồi và bây giờ cô ấy không cần làm gì hết, tất cả mọi kênh truyền thông đều bị kéo vào vòng xoáy của cô ấy và phải viết bài về cô ấy. Những tờ báo lá cải khai thác thông tin trên mọi góc độ thì không nói làm gì, nhưng ngay cả các tờ báo “đàng hoàng”, “chính thống” cũng bị buộc phải lên tiếng để… chê! Cho dù chủ ý họ không muốn thế nhưng dưới sức ép từ sự quan tâm quá đà của dư luận khi cạnh tranh thông tin giữa các báo hay từ góc độ ảnh hưởng tiêu cực đến xã hội (do người ta nghĩ thế) thì báo chí bắt buộc phải viết bài.

Rồi sẽ có nhiều công ty, doanh nghiệp, nhãn hàng mời cô ấy làm đại sứ hay tham gia chụp hình quảng cáo. Một số sự kiện sẽ mời cô ấy tới chụp hình thảm đỏ (chứ không cần tự tới như trong lễ ra mắt album mới của Lam Trường). Những người làm event họ nhanh nhạy lắm, cứ cái gì thu hút được truyền thông và dư luận thì sẽ được khai thác triệt để ngay. Đó là quy luật tất yếu không thể ngăn cản được. Mà tôi thấy cũng chẳng phải ngăn cản để làm gì. Mỗi người lựa chọn một cách sống khác nhau miễn đừng vi phạm luật pháp và những giá trị đạo đức quan trọng nhất. Những người chỉ trích cô ấy chắc gì đã không ghen tỵ và biết đâu họ đang ước gì đủ dũng cảm để làm như cô gái này.

Trước khi bắt đầu nhận lời hợp tác với một hot boy, hot girl, ca sỹ, người mẫu, diễn viên… nào đó, tôi thường nói với họ một câu rằng “nổi tiếng thì không khó, nhưng em có dám nổi tiếng không?”. Bởi vì đa số các bạn ấy chỉ nhìn thấy những hào quang, những thứ được truyền thông tô vẽ một cách lung linh và rực rỡ mà không thấy được áp lực cực lớn từ dư luận, sự đánh đổi tự do, hy sinh bản thân và những nhọc nhằn phía sau danh tiếng. Đó là lý do tại sao không thiếu các cô gái có khuôn mặt ưa nhìn, dáng người cao ráo và ngực cũng khủng chẳng thua ai mà không trở nên nổi tiếng. Vì tố chất quan trọng nhất là phải “dám nổi tiếng” thì họ không hề có.

Phân tích như vậy để thấy rằng mọi người không cần quá lo ngại rằng sự nổi tiếng của cô gái này sẽ “dạy hư” giới trẻ hay tất cả các bạn nữ khác cũng sẽ đồng loạt bắt chước không mặc áo ngực để nhảy sexy. Đừng mơ mộng rằng cuộc sống ngoài kia ai cũng đủ tự tin như vậy!

(© Nguyễn Ngọc Long Blackmoon / Truyền thông Trăng Đen)

2.

‘Bà Tưng’ lướt sóng truyền thông

[link at tuanvietnam.net]

Tác giả: KHÁNH DUY  (30/06/2013)

Cách thức “Bà Tưng” tận dụng Facebook được nổi tiếng bị đánh giá là tiêu cực, nhưng việc cô gái này nhận ra những cơ hội lớn mà truyền thông mới mở ra là tích cực.

Ai cũng có thể lên tiếng

Một cô gái biệt danh “Bà Tưng” xuất bản một đoạn clip chỉ ngắn hơn một phút lên Facebook với hình ảnh chính mình “thả rông vòng một” nhảy múa trong phòng ngủ vào ngày 16/6. Sau chưa đầy hai tuần, chỉ trên Facebook của cô, đoạn clip được hơn 30.000 người thích, gần 3.000 người chia sẻ và hơn 8.000 bình luận.

Bằng đoạn clip trên và một vài nội dung câu khách khác, Facebook của cô đã có hơn 180.000 người theo dõi. Gần như toàn bộ các tờ báo điện tử và trang thông tin điện tử lớn nhỏ đều đưa tin và nhiều bình luận về hiện tượng “Bà Tưng” và đặt bài ở những vị trí quan trọng trên trang chủ, như một sự kiện ở… tầm quốc gia.

Việc một “Bà Tưng” chỉ với công cụ mạng xã hội và các kỹ thuật PR không phức tạp đã đủ làm huyên náo cả truyền thông chính thống lẫn phi chính thống đặt ra một vấn đề lớn hơn chuyện đạo đức của một cô gái, lớn hơn cả chuyện đạo đức của một nền báo chí khi đăng tải những thông tin như vậy. Đúng hay sai, tốt hay xấu thì một thực tế đã nảy sinh: ai cũng có thể lên tiếng và được lắng nghe trên truyền thông ngày nay, nếu biết tận dụng đúng kênh và đúng cách.

Giáo sư Henry Jenskin, Viện Đại học Công nghệ Massachussetts viết: “Thế giới chúng ta đang sống là nơi mà mỗi câu chuyện, mỗi hình ảnh, mỗi âm thanh, mỗi thương hiệu và các mối quan hệ đều được chảy trên tất cả các kênh truyền thông khác nhau, và dòng chảy ấy được định hình và quyết định từ phòng ngủ của các cô/cậu choai choai chẳng kém gì từ phòng họp của các tập đoàn truyền thông.”

Ông đã đúng, quyết định tự khoe thân từ phòng ngủ của “Bà Tưng” đã khuynh loát truyền thông đại chúng, cho dù không có cuộc họp của ban biên tập tờ báo nào chỉ đạo phải đăng.

Bà Tưng, Facebook, truyền thông xã hội, nổi tiếng, hotgirl, nổi loạn
“Bà Tưng”, cô gái khuynh loát truyền thông thời gian qua

Chỉ năm mười năm trước, một cô gái như “Bà Tưng” không có công cụ gì để được nổi bật một cách nhanh chóng như vậy.

Giờ đây, cô có Facebook. Nếu không có Facebook, cô vẫn còn YouTube. Nếu không có YouTube, cô có Pinterest, Instagram. Mất hết, cô lại có Blogspot, WordPress, Twitter, diễn đàn mạng và vô số các công cụ truyền thông tương tác khác mà thời đại Internet đang tiếp tục mở ra.

Một thời đại truyền thông mới với nhiều tên gọi khác nhau: thời đại tương tác, kỷ nguyên truyền thông tham gia, nền văn hoá tích hợp. Cho dù ở tên gọi nào thì đặc điểm cơ bản vẫn là: quần chúng không còn là những độc giả bị động nữa, mà chủ động tham gia quá trình chọn lọc, sản xuất, bình luận và phát tán nội dung thông điệp.

“Không nên vì bị nghẹn mà bỏ ăn cơm”

Ở thời đại báo in, độc giả chỉ có quyền đọc lặng lẽ. Ở thời đại phát thanh, thính giả chỉ có quyền nghe lặng lẽ. Ở thời đại truyền hình, khán giả chỉ có quyền xem lặng lẽ.

Thời đại Internet phá vỡ mọi lặng lẽ. Độc giả sẽ không còn chịu “ngồi im” nữa để nghe báo đài muốn phát gì thì phát, nói gì thì nói, viết gì thì viết. Giờ đây, họ “nổi loạn” bằng những bình luận trên mạng. Không chỉ bình luận, họ tự sản xuất nội dung và xuất bản trên vô số kênh đa dạng.

Quá trình truyền thông không còn là sự phát tán một chiều, mà giờ đây là sự tương tác hai chiều và đa chiều. Kỷ nguyên dân chủ hoá thông tin được nhà nghiên cứu truyền thông Joshua Meyrowitz nhận định từ năm 1985 đã mở ra, cho phép “những người thấp nhất trong nấc thang xã hội cũng có thể tiếp cận với lượng thông tin lớn” và “tăng cường các cơ hội để thông tin được chia sẻ theo chiều ngang” thay vì phải đi qua các kênh phát chính thống theo chiều dọc.

Báo chí chính thống không còn cách nào khác ngoài phối hợp và tận dụng các công cụ truyền thông mới, về cả kỹ thuật lẫn nội dung, để tự làm mới mình, tránh rơi vào thế yếu so với sự bùng nổ của mạng xã hội. Sự hội nhập này thể hiện trong sự kiện “Bà Tưng” khi báo chí lấy thông tin từ mạng xã hội và ngược lại mạng xã hội phát tán lại các đường link từ báo chí. Quá trình này được nhà nghiên cứu truyền thông Henry Jenskin gọi là nền văn hoá tích hợp, trong đó truyền thông là sự kết hợp giữa “cả quá trình định hướng từ trên xuống của cơ quan truyền thông và định hướng từ dưới lên của người tiêu dùng”.

Sự kiện “Bà Tưng” dù bị đánh giá tiêu cực cũng là một chỉ dấu tiếp nữa cho thấy làn sóng dân chủ hoá và tích hợp thông tin đã lan toả tới Việt Nam, và sẽ tiếp tục lan toả mạnh trong thời gian tới. Làn sóng này có thể mang tới những đặc điểm tiêu cực như sự sai lệch hay bóp méo thông tin, sự phân cực và đối kháng trong bình luận, sự nổi lên của giật gân và lá cải…

Mất kiểm soát và phi tiêu chuẩn là những đặc trưng được đánh giá là thiếu tích cực của giai đoạn truyền thông mới hiện nay. Tuy vậy, cố tình ngăn chặn làn sóng ấy là bất khả, bởi nó có quy mô toàn cầu và sức mạnh hoàn toàn không kém gì sự xuất hiện của báo in hay TV vào thế kỷ trước.

Thay vì tìm cách ngăn chặn, những nhà quản lý, những người làm truyền thông và cả người tiêu dùng có thể khai thác triệt để những lợi điểm chưa từng có của truyền thông mới. Facebook không nên được nhìn nhận như một hiểm họa, mà ngược lại là kênh tiếp thị cực rẻ và hiệu quả cho doanh nghiệp và tổ chức.

Thay vì bôi bác “Bà Tưng”, doanh nghiệp và tổ chức có thể đặt câu hỏi liệu có cách nào không để qua Facebook sản phẩm và dịch vụ của mình có thể được công chúng biết tới nhanh như thế, và rẻ như thế. Thay vì bỉ bai “Bà Tưng”, các nhà hoạt động xã hội có thể tự hỏi liệu có cách nào để tiếng nói của họ được lắng nghe rộng rãi như thế thông qua truyền thông mới.

Các nhà quản lý phải cưỡi lên ngọn sóng dân chủ hoá thông tin này, thay vì đi ngược lại dòng chảy của nó. Bởi nói như Đặng Tiểu Bình khi đối mặt với những biểu hiện tiêu cực của quá trình đổi mới Trung Quốc vào những năm 80 của thế kỷ trước: “Không nên vì bị nghẹn mà bỏ ăn cơm”.

IPv6 Subnetting – How and Why to Subnet IPv6

by Arani Mukherjee (link)

In the previous tutorials, I went through the need for IPv6, and followed it up by drawing out the salient features which overcomes issues with IPv4. We took the journey of looking inside the headers, the structure and purpose of each and every extension headers. By now I sincerely hope, as readers, you all have got a good grasp of what entails this new protocol.

In this tutorial, I will be talking about subnetting. Subnetting is one of the most talked about, practiced, and supposedly confusing topics encountered by network professionals. In retrospect, all I would say, and do take it as a personal opinion, subnetting is one of the easiest things that can be mastered. The question you might ask is, why do we need to do subnetting if IPv6 already caters to the need for an absurd amount of IP addresses? Yes, I would agree to it at first but because IPv6 does make itself and subnetting two very disjoint terms. I might say, subnetting decreases broadcast traffic, but then you can counter it by saying IPv6 doesn’t have broadcast traffic. It does become difficult to justify.

However if you see it logically, you will still need reduce unnecessary network traffic. Subnetting also will give you an element of security. You can force people to follow a certain route, or even go through a specific router, where you can apply security policies.

For network administrators, subnetting increases flexibility in designing networks, route summarisation becomes easy, routing itself becomes efficient and management of networks improves. If you are given a /48 subnet to work with, you will have more than enough spaces to work with i.e. you get 65536 subnets with 18,446,744,073,709,551,616 hosts per subnet. I think that’s more than enough.

So, in all, subnetting is necessary in IPv6, but not for the reasons why we did it with IPv4.

Before diving into subnetting IPv6, I’d like to present a diagram which illustrates the differences between the IPv4 & IPv6 header. This will help understand the major structural differences between the two protocols. Notice the additional addressing space provided in the IPv6 Source and Destination Address which is now 128bit long (each), compared to 32bits in IPv4:

ipv6-ipv4-vs-ipv6-header

Courtesy of ls-a.org

Now, let us all exercise our birthright to subnet, and dig deeper into how we go about doing it. I can bet you, there are more than thousands of ways you can do this, and perhaps a similar if not greater number of videos on the web, that teaches you to do this as well. What follows is my personal humble attempt of practicing the dark arts, in perhaps a simple way possible.
An IPv6 subnet mask is written in hexadecimal, but let’s start by explaining that IPv6 uses 128 binary digits for each IP address, as opposed to IPv4’s 32 binary digits, and those 128 binary digits are divided into eight 16-bit words (8 x 16 = 128), like this:

0000000000000000.0000000000000000.0000000000000000.0000000000000000.0000000000000000.0000000000000000.0000000000000000.0000000000000000

It would be a little difficult to use IPv4’s old octet notation for 128 bits, which might look like this:
182.222.101.003.255.074.112.200.000.010.135.016.208.192.136

So, a hexadecimal representation is used instead, which makes a little bit easier. Hexadecimal is a 16-digit numbering system, as opposed to binary’s 2-digit system and decimal’s 10-digit system. The 16 digits of hexadecimal run from zero to nine, then use the letters A to F: {0123456789ABCDEF}.

One 4-digit hex word represents 16 binary digits, like this:
Bin 0000000000000000 = Hex 0000 (or just 0)
Bin 1111111111111111 = Hex FFFF
Bin 1101010011011011 = Hex D4DB

So, this 128-bit binary address:

1111111111111111.1111111111111111.1111111111111111.1111111111111111.1111111111111111.1111111111111111.1111111111111111.1111111111111111

…would be represented by 8 hex words, separated by colons:

FFFF:FFFF:FFFF:FFFF:FFFF:FFFF:FFFF:FFFF

A full IPv6 subnet mask uses the same 8-hex-word format as an IPv6 address, although some tools allow you to specify only 1 hex word.

Like IPv4, an IPv6 address has a network portion and a device portion. Unlike IPv4, an IPv6 address has a dedicated subnetting portion. Here’s how the ranges are divided in IPv6:

Network Address Range
In IPv6, the first 48 bits are for Internet routing.

1111111111111111.1111111111111111.1111111111111111.0000000000000000.0000000000000000.0000000000000000.0000000000000000.0000000000000000

Subnetting Range :
The 16 bits from the 49th to the 64th are for defining subnets.

0000000000000000.0000000000000000.0000000000000000.1111111111111111.0000000000000000.0000000000000000.0000000000000000.0000000000000000

Device (Interface) Range:
The last 64 bits are for device (interface) ID’s.

0000000000000000.0000000000000000.0000000000000000.0000000000000000.1111111111111111.1111111111111111.1111111111111111.1111111111111111

The diagram below depicts a Global Unicast IPv6 address which has the following characteristics:

  • Address format that enables aggregation upward to the ISP.
  • 48-bit global routing prefix and a 16-bit subnet ID.
  • Allows for organizations to have up to 65535 individual subnets

ipv6-address

Courtesy of ls-a.org

Subnetting Example

Let’s say you want to break your corporate network into 64 subnets. The binary mask just for the subnetting range would be1111110000000000 which translates to a hex value of FC00. Some IPv6 masking tools will work with just this one hex word, otherwise a full 128-bit hex mask would be FFFF:FFFF:FFFF:FC00:0:0:0:0.

If you play around with converting values in the Windows Calculator (in scientific mode), remember to convert between binary and hexadecimal, not decimal and hex.

Before you ask, yes, it is possible to use bits in the device range for additional subnet masking, but you shouldn’t need it. The 16 binary digits dedicated to subnetting and 64 binary digits available for devices give 65,535 subnets with over 18 quintillion devices per subnet. In addition, if you use some of the 64 bits in the device range for subnetting, then you can’t use autoconfiguration tools because they expect all of the 64 bits on the right side to be dedicated to devices. So don’t use any of the device bits for subnetting if you need IPv6 Autoconfiguration and if you don’t know whether or not you need autoconfiguration, assume you do. And even if you know you don’t need autoconfiguration, it’s a good standard to use a 64-64 split for network/lan vs. device.

Those interested in IP4v Subnetting can read through our extensive IPv4 Subnetting tutorial.

Hope the tutorial quenches your thirst for IPv6 subnetting.

About the Writer

Arani Mukherjee holds a Master’s degree in Distributed Computing Systems from the University of Greenwich, UK and works as network designer and innovator for remote management systems, for a major telecoms company in UK. He is an avid reader of anything related to networking and computing. Arani is a highly valued and respected member of Firewall.cx, offering knowledge and expertise to the global community since 2005.

10 things you should know about IPv6 addressing

October 22, 2010, 7:55 AM PDT

Takeaway: Although IPv6 adoption seems to be moving at a snail’s pace, there’s no outrunning it. Brien Posey demystifies some of the addressing issues many admins are still trying to figure out.

[Editor’s note: This article has been revised to correct a couple of errors noted by TechRepublic members. Thanks to everyone who contributed their input.]

Over the last several years, IPv6 has been inching toward becoming a mainstream technology. Yet many IT pros still don’t know where to begin when it comes to IPv6 adoption because IPv6 is so different from IPv4. In this article, I’ll share 10 pointers that will help you understand how IPv6 addressing works.

1: IPv6 addresses are 128-bit hexadecimal numbers

The IPv4 addresses we are all used to seeing are made up of four numerical octets that combine to form a 32-bit address. IPv6 addresses look nothing like IPv4 addresses. IPv6 addresses are 128 bits in length and are made up of hexadecimal characters.

In IPv4, each octet consists of a decimal number ranging from 0 to 255. These numbers are typically separated by periods. In IPv6, addresses are expressed as a series of eight 4-character hexadecimal numbers, which represent 16 bits each (for a total of 128 bits). As we’ll see in a minute, IPv6 addresses can sometimes be abbreviated in a way that allows them to be expressed with fewer characters.

2: Link local unicast addresses are easy to identify

IPv6 reserves certain headers for different types of addresses. Probably the best known example of this is that link local unicast addresses always begin with FE80. Similarly, multicast addresses always begin with FF0x, where the x is a placeholder representing a number from 1 to 8.

3: Leading zeros are suppressed

Because of their long bit lengths, IPv6 addresses tend to contain a lot of zeros. When a section of an address starts with one or more zeros, those zeros are nothing more than placeholders. So any leading zeros can be suppressed. To get a better idea of what I mean, look at this address:

FE80:CD00:0000:0CDE:1257:0000:211E:729C

If this were a real address, any leading zero within a section could be suppressed. The result would look like this:

FE80:CD00:0:CDE:1257:0:211E:729C

As you can see, suppressing leading zeros goes a long way toward shortening the address.

4: Inline zeros can sometimes be suppressed

Real IPv6 addresses tend to contain long sections of nothing but zeros, which can also be suppressed. For example, consider the address shown below:

FE80:CD00:0000:0000:0000:0000:211E:729C

In this address, there are four sequential sections separated by zeros. Rather than simply suppressing the leading zeros, you can get rid of all of the sequential zeros and replace them with two colons. The two colons tell the operating system that everything in between them is a zero. The address shown above then becomes:

FE80:CD00::211E:729C

You must remember two things about inline zero suppression. First, you can suppress a section only if it contains nothing but zeros. For example, you will notice that the second part of the address shown above still contains some trailing zeros. Those zeros were retained because there are non-zero characters in the section. Second, you can use the double colon notation only once in any given address.

5: Loopback addresses don’t even look like addresses

In IPv4, a designated address known as a loopback address points to the local machine. The loopback address for any IPv4-enabled device is 127.0.0.1.

Like IPv4, there is also a designated loopback address for IPv6:

0000:0000:0000:0000:0000:0000:0000:0001

Once all of the zeros have been suppressed, however, the IPv6 loopback address doesn’t even look like a valid address. The loopback address is usually expressed as ::1.

6: You don’t need a traditional subnet mask

In IPv4, every IP address comes with a corresponding subnet mask. IPv6 also uses subnets, but the subnet ID is built into the address.

In an IPv6 address, the first 48 bits are the network prefix. The next 16 bits are the subnet ID and are used for defining subnets. The last 64 bits are the interface identifier (which is also known as the Interface ID or the Device ID).

If necessary, the bits that are normally reserved for the Device ID can be used for additional subnet masking. However, this is normally not necessary, as using a 16-bit subnet and a 64-bit device ID provides for 65,535 subnets with quintillions of possible device IDs per subnet. Still, some organizations are already going beyond 16-bit subnet IDs.

7: DNS is still a valid technology

In IPv4, Host (A) records are used to map an IP address to a host name. DNS is still used in IPv6, but Host (A) records are not used by IPv6 addresses. Instead, IPv6 uses AAAA resource records, which are sometimes referred to as Quad A records. The domain ip6.arpa is used for reverse hostname resolution.

8: IPv6 can tunnel its way across IPv4 networks

One of the things that has caused IPv6 adoption to take so long is that IPv6 is not generally compatible with IPv4 networks. As a result, a number of transition technologies use tunneling to facilitate cross network compatibility. Two such technologies are Teredo and 6to4. Although these technologies work in different ways, the basic idea is that both encapsulate IPv6 packets inside IPv4 packets. That way, IPv6 traffic can flow across an IPv4 network. Keep in mind, however, that tunnel endpoints are required on both ends to encapsulate and extract the IPv6 packets.

9: You might already be using IPv6

Beginning with Windows Vista, Microsoft began installing and enabling IPv6 by default. Because the Windows implementation of IPv6 is self-configuring, your computers could be broadcasting IPv6 traffic without your even knowing it. Of course, this doesn’t necessarily mean that you can abandon IPv4. Not all switches and routers support IPv6, just as some applications contain hard-coded references to IPv4 addresses.

10: Windows doesn’t fully support IPv6

It’s kind of ironic, but as hard as Microsoft has been pushing IPv6 adoption, Windows does not fully support IPv6 in all the ways you might expect. For example, in Windows, it is possible to include an IP address within a Universal Naming Convention (\\127.0.0.1\C$, for example). However, you can’t do this with IPv6 addresses because when Windows sees a colon, it assumes you’re referencing a drive letter.

To work around this issue, Microsoft has established a special domain for IPv6 address translation. If you want to include an IPv6 address within a Universal Naming Convention, you must replace the colons with dashes and append .ipv6.literal.net to the end of the address — for example, FE80-AB00–200D-617B.ipv6.literal.net.

Thực hành chia subnet

Bài toán:

Cho địa chỉ IP: 192.168.10.210/27.
a.  Địa chỉ này thuộc lớp nào? Giải thích.
b.  Tìm địa chỉ mạng và địa chỉ broadcast của mạng chứa địa chỉ IP trên?
c.  Hãy chia mạng con vừa tìm được ở câu b thành 4 mạng con. Liệt kê các địa chỉ mạng, địa chỉ broadcast và dãy địa chỉ host của 4 mạng con này.

 

 

Giải:

192.168.10.210/27 là địa chỉ đã dc chia
với n=3 ->2^3=8 ta có
SM:255.255.255.224
bước nhảy: 256-224=32
liệt kê lớp Net:
192.168.10.0
192.168.10.32
192.168.10.64
192.168.10.96
192.168.10.128
192.168.10.160
192.168.10.192/27 -> IP 192.168.10.210 nằm trong lớp Net này vậy
192.168.10.224
Net ID: 192.168.10.192
Star IP: 192.168.10.193
End IP: 192.168.10.222
Broadcast: 192.168.10.223
192.168.10.192/27 chia thành 4 mạng con
2^n>=4 ->n=2 thì 192.168.10.192/27 -> 192.168.10.192/29
Với n=2 thì ta có SM 255.255.255.248
Vì defaul là /24 = 255.255.255.0
Khi mượn thêm 3 thì /27 = 255.255.255.224
Khi mượn thêm 2 nữa thì tức là thành mượn 5 /29 = 255.255.255.248
Bước nhảy: 256-248=8
Liệt kê:
Net 1  Net ID: 192.168.10.192
Star IP: 192.168.10.193
End IP: 192.168.10.198
SM: 255.255.255.248
Braodcast: 192.168.10.199
Net 2:   Net ID: 192.168.10.200
Star IP: 192.16.10.201
End IP: 192.168.10.206
SM:255.255.255.248
Broadcast: 192.168.10.207
Net 3:  Net ID 192.168.10.208
Star IP: 192.168.10.209
End IP: 192.168.10.214
SM: 255.255.255.248
Broadcast: 192.162.10.215
Net 4:   Net ID 192.168.10.216
Star IP: 192.168.10.217
End IP: 192.168.10.222
SM: 255.255.255.248
Broadcast: 192.168.10.223

Source: http://khanh.com.vn/post/2010/10/20/Subnet-mask-va-cach-chia.aspx